CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THUC TIEN VE QUAN LÝ THU-CHI NGÂN SÁCH HUYỆN 1. Những vấn đề chung về ngân sách nhà nước 1. Khái niệm Ngày 20/03/1996, Quốc hội thông qua Luật Ngân sách nhà nước. Từ đó đến nay, Luật NSNN đã hai lần được bồ sung, thay đôi sao cho phù hợp với định hướng và thể chế của nhà nước.
Vì vậy, theo từng thời kì khái niệm về NSNN trong Luật NSNN có sự khác nhau. Theo đó, thứ nhất, Luật NSNN năm 1996 quy định: “NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước trong dự toán đã được cơ quan nhà nước có thâm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm dé bao đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước” (có cụm từ “dự toán”). Thứ hai, Luật NSNN năm 2002 quy định: “NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nha nước có thâm quyền quyết định va được thực hiện trong một năm dé bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước” (không có cụm từ “dự toán”) Thứ ba, Luật NSNN năm 2015. “Theo đó căn cứ vào Khoản 14, Điều 4 quy định: NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thâm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước” (có cụm từ “dự toán”).
Trong thực tiễn, “hoạt động NSNN là hoạt động thu (tạo lập) và chỉ tiêu (sử dụng) quỹ tiền tệ của Nhà nước làm cho nguồn tài chính vận động giữa một bên là nhà nước với một bên là các chủ thé xã hội (các cá nhân, don vi, tô chức chính trị xã hội,. thụ hưởng NSNN) trong quá trình phân phối tổng sản phẩm quốc dân dưới hình thái giá trị. Thông qua việc tạo lập, sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước, NSNN chuyển dịch một bộ phận thu nhập bằng tiền của các chủ thể được hưởng nhằm thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước. Đặc điểm, vai trò cia NSNN * Dac diém chung NSNN Thứ nhất, việc tao lập va sử dung quỹ NSNN luôn gan liền với quyền lực kinh tế - chính trị của Nhà nước, được Nhà nước tiến hành trên cơ sở những luật lệ nhất định.
Thực chất NSNN 1a một bộ luật do Quốc hội quyết định, mà trong đó các chủ thé có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, được quy định nhiệm vụ và chức năng rõ ràng nhăm thực hiện mục tiêu chung. - Thứ hai, NSNN luôn gan chặt với sở hữu Nha nước va luôn chứa đựng lợi ích chung, lợi ích công cộng. Theo quy định thì NSNN chỉ do Nhà nước quyết định và các khoản thu- chi trong NSNN đều được thực hiện dựa vào nhân dân, gắn liền với người dân, đặt lợi ích người dân lên hàng đầu. Cho nên mục tiêu của NSNN là nhăm tới lợi ích chung của toàn xã hội.
- Thứ ba, NSNN là một ban dự toán thu chi. Boi NSNN bao gồm các khoản 4 thu và khoản chi được quy định theo luật NSNN. Dựa trên cơ sở bản dự toán về thu-chi NS mà Chính Phủ có thê đưa ra những phương án chính xác, phù hợp với nguôn tài chính nhằm phát triên KT-XH. - Thứ tư, đặc điểm của NSNN luôn gắn liền với tính giai cấp.
Trước khi cải cách, mô hình NS vô cùng đơn giản và sơ khai bị lẫn lộn giữa ngân sách của Nhà nước với ngân khố. Hoạt động thu — chi chi đơn giản là sự cống nạp — ban phát giữa Nhà vua và các tang lớp quan lại, các nước chư hau, thương dân và tang lớp dân sư. Tuy nhiên, đối với Nha nước TBCN hoặc Nhà nước XHCN, ngân sách được lập và xét duyệt bởi cơ quan pháp quyền, được kiêm soát bởi hệ thống pháp luật và nhân dân, và được quyết định bởi nhân dân thông qua Quốc hội. * Vai trò NSNN NSNN là công cụ tài chính quan trong nhất, giữ vai trò chủ đạo trong hệ thống tài chính và quyết định trực tiếp tới quá trình phát triển của nền KT-XH.
Trong từng giai đoạn cụ thé, vai trò của NSNN là khác nhau dựa vào nhiệm vụ và chức năng của nó. Các nhà điều hành, lãnh đạo của Nhà nước cần phát huy tốt nhất vai trò của NSNN. Trong nên kinh tế thị trường hiện nay, NSNN có những vai trò sau: - Vai trò huy động các nguôn Tài chính dé dam bảo nhu cau chỉ tiêu của Nhà nước NSNN là công cụ Tài chính quan trọng của Nhà nước. Hầu hết các hoạt động về kinh tế, chính trị, xã hội trên cả nước phải có tài chính mới có thé vận hành hiệu quả.
Nguồn tài chính quan trọng của nhà nước đều từ các nguồn thu trong NSNN. Vi vậy, du trong bối cảnh nào, nhà nước cũng cần có biện pháp dé NSNN phát huy tối đa vai trò này. - Vai trò thúc day sự tăng trưởng của kinh tế, diéu chỉnh kinh tế vĩ mô. NSNN là công cụ quan trọng trong việc kiềm chế lạm phát, bình 6n giá cả từ đó giúp ôn định thị trường, giải quyết các nguy cơ bất ôn ảnh hưởng đến KT-XH.
Với việc sử dụng NSNN Nhà nước cần có những chính sách tài khóa phù hợp với thị trường nhằm mục đích kích cau, kích thích sản xuất nâng cao đời sống XH. - Vai trò góp phan bù đắp những khiếm khuyết của KTTT, đảm bảo công bằng xã hội, bảo vệ môi trường, thúc đẩy phát triển bên vững. Trong nền KTTT được vận hành theo những quy luật riêng đã đạt được nhiều ưu điểm thế nhưng mặt trái của nó lại gây ra sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội, gây bât ôn xã hội. Bên cạnh đó, với mục tiêu theo đuôi tôi đa hóa lợi nhuận nên các chủ sở hữu chỉ tập trung khai thác tối đa mọi nguồn lực trong tự nhiên mà không quan tâm đến môi trường sinh thái gây ảnh hưởng đến chất lượng hàng hóa công cộng.
Xét về lâu đài, thì đó là sự phát triển không vững. Vì vậy thông qua công cụ NSNN kết hợp chính sách thuế cung cấp hàng hóa dịch vụ công cho xã hội nhằm bảo vệ mội trường đồng thời phân phối lại thu nhập đảm bảo công bằng giữa các tầng lợp trong XH. Qua các vai trò trên của NSNN càng khẳng định được tầm quan trọng của NSNN cũng như các công cụ của nó trong việc quản lý toàn diện bộ mặt KT-XH của đất nước. Hệ thống NSNN Việt Nam “Hệ thống ngân sách nhà nước là tong thé ngân sách của các cấp chính quyền nhà nước.
Tổ chức hệ thống ngân sách chịu tác động bởi nhiều yếu tố mà trước hết đó là chế độ xã hội của một nhà nước va phân chia lãnh thé hành chính. Thông thường ở các nước hệ thống ngân sách được t6 chức phù hợp với hệ thống hành chính” Theo điều 8 Nguyên tắc quản lý ngân sách nhà nước theo luật NSNN 2015. Nguyên tác thực hiện của hệ thống NSNN Việt Nam - “Tính thống nhất: đòi hỏi các khâu trong hệ thống ngân sách phải hợp thành một thé thống nhất, biéu hiện các cấp ngân sách có cùng nguồn thu, cùng định mức chi tiêu và cùng thực hiện một quá trình ngân sách. - Tính tập trung: thê hiện ngân sách trung ương g1ữ vai trò chủ dao, tập trung các nguôn thu lớn và các nhiệm vụ chi quan trọng.
Ngân sách câp dưới chịu sự chi phôi của ngân sách cap trên và được trợ cap từ ngân sách cap trên nham đảm bảo cân đôi của ngân sách câp mình. - Tính dân chủ: Dự toán và quyết toán ngân sách phải được tông hợp từ ngân sách cấp dưới, đồng thời mỗi cấp chính quyền có một ngân sách và được quyền chi phối ngân sách cấp mình.” Theo tỉnh thần mới của luật NSNN 2015, hệ thống NSNN hiện nay ở nước ta gồm 2 phân cấp: “ngân sách trung ương (NSTW) và ngân sách địa phương (NSDP). - Ngân sách trung ương: là các khoản thu ngân sách nhà nước phân cấp cho trung ương hưởng và các khoản chi ngân sách nhà nước thuộc nhiệm vụ thi của cấp trung ương. - Ngân sách địa phương: là các khoản thu ngân sách nhà nước phân cấp cho cấp địa phương hưởng, thu bé sung từ ngân sách trung ương cho ngân sách dia phương và các khoản chi ngân sách nhà nước thuộc nhiệm vụ chi của cấp địa phương.” Theo điều 6 Luật NSNN 2015 thì ngân sách các cấp chính quyền địa phương N À gom: “4 Ngân sách cấp Tỉnh, Thành phó trực thuộc trung ương (gọi chung là ngân sách cấp Tỉnh) + Ngân sách cap Huyện, Quận, Thi xã, Thành phó thuộc tỉnh (gọi chung là ngân sách cấp Huyện) + Ngân sách cấp Xã, Phường, Thị trấn (gọi chung là ngân sách cấp Xã)” Hệ thống NSNN Việt Nam hiện nay có thể được khái quát theo sơ đồ sau: Ngân sách Nhà nước | Y Ngân sách trung ương | Ngân sách địa phương ¥ Ngân sách tinh, thành phố trực thuộc TW Y Ngân sách quận, huyện, thi xã trực thuộc tinh =.
Ngân sách xã, phường, thị trần trực thuộc huyện Hình 1. Sơ đồ hệ thống NSNN Quan hệ giữa ngân sách các cấp được thực hiện theo các nguyên tắc sau đây: “+ NSTW đóng vai trò chủ đạo, đảm bảo các nhiệm vụ chi quốc gia và hỗ trợ các địa phương chưa cân đối ngân sách. + Ngân sách trung ương và ngân sách mỗi cấp chính quyền địa phương được phân định nguồn thu và nhiệm vụ chỉ cụ thể + Thực hiện việc bồ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới dé bảo đảm công bang, phát triển cân đối giữa các vùng, các địa phương. Số bé sung này là khoản thu của ngân sách cấp dưới.
Trường hợp cơ quan quản lý Nhà nước cấp trên ủy quyền cho cơ quan quan lý Nhà nước cấp dưới thực hiện nhiệm vụ chi thuộc chức năng của mình thì phải chuyền kinh phí từ ngân sách cấp trên cho cấp dưới đề thực hiện nhiệm vụ đó + Ngoài việc bé sung nguồn thu và ủy quyền thực hiện nhiệm vụ chi vừa nêu trên, không được dùng ngân sách cấp này dé chi cho nhiệm vụ của cấp khác. Quản lý thu-chi ngân sách cấp huyện 1. Quản lý thu NSNN cấp huyện *Khái niệm quản lý thu NSNN cấp huyện “Là quá trình tạo lập, hình thành ngân sách huyện, đóng vai trò quan trọng, quyết định đến việc chi ngân sách huyện. Dé dam bảo nguồn thu cho ngân sách, cần phải có chính sách thu hợp lý, hiệu quả, tập hợp các biện pháp, chủ trương nhằm huy động nguồn thu vào cho ngân sách.