Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác đào tạo cho nhân viên môi giới bất động sản trong doanh nghiệp. -Chương 2: Thực trạng công tác đào tạo cho nhân viên môi giới bất động sản tại Công ty Cổ phần Tuấn 123. - Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác đào tạo cho nhân viên môi giới bất động sản tại Công ty Cổ phần Tuấn 123. 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO CHO NHÂN VIÊN MÔI GIỚI BẤT ĐỘNG SẢN TẠI DOANH NGHIỆP 1.
Một số khái niệm cơ bản có liên quan và vai trò của công tác đào tạo cho nhân viên môi giới bất động sản 1. Mội số khái niệm có liên quan 1. Khái niệm đào tạo Theo Đại từ điển Tiếng Việt: Đào tạo là dạy dỗ, rèn luyện để trở nên người có hiểu biết, có nghề nghiệp. Đào tạo là hoạt động nhằm trang bị cho người học các kỹ năng thực hành, nghề nghiệp hay kiến thức liên quan đến một lĩnh vực cụ thể, để người học lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kĩ năng, nghề nghiệp một cách có hệ thống để chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng đảm nhận được một công việc nhất định.
Kết quả và trình độ được đào tạo (trình độ học vấn) của một người còn do việc tự đào tạo của người đó thể hiện ở việc tự học và tham gia các hoạt động xã hội, lao động sản xuất rồi tự rút ra kinh nghiệm của người đó quyết định. Chỉ khi nào quá trình đào tạo được biến thành quá trình tự đào tạo một cách tích cực, tự giác thì việc đào tạo mới có hiệu quả cao. Trong cuốn Quản trị nhân sự (Human resource management) của Nguyễn Hữu Thân, cho rằng: “Đào tạo bao gồm các hoạt động nhằm mục đích nâng cao tay nghề hay kỹ năng của một cá nhân đối với công việc hiện hành”. Đào tạo là các hoạt động để duy trì và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của tổ chức, là điều kiện quyết định để các tổ chức có thể đứng vững và thắng lợi trong môi trường cạnh tranh.
Theo nghĩa rộng, đào tạo là tổng thể các hoạt động học tập có tổ chức được tiến hành trong khoảng thời gian nhất định nhằm đem đến sự thay đổi nhân cách và nâng cao năng lực con người. Khái niệm nhân lực Nhân lực được hiểu là toàn bộ các khả năng về thể lực, trí lực và tâm lực của con người được vận dụng ra trong quá trình lao động sản xuất. Nó cũng được xem là sức lao động của con người – một nguồn lực quí giá nhất trong các yếu tố của sản xuất của các doanh nghiệp. Nhân lực của doanh nghiệp bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong doanh nghiệp đó.
Bất cứ doanh nghiệp nào cũng được hình thành bởi các thành viên là con người hay nhân lực của doanh nghiệp. Nhân lực của một doanh nghiệp bao gồm các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định. Còn sức lao động được hiểu là toàn bộ thể lực, trí lực và tâm lực của mỗi con người biểu hiện thành sức lao động của mỗi người lao động. - Thể lực chỉ sức khỏe của thân thể, nó phụ thuộc vào sức vóc, tình trạng sức khỏe của từng người, mức sống, chế độ ăn uống, thu nhập, chế độ nghỉ ngơi, độ tuổi, giới tính.
- Trí lực chỉ sự suy nghĩ, hiểu biết, sự tiếp thu kiến thức, tài năng của từng con người. - Tâm lực nói đến quan điểm, lòng tin, nhân cách, mức cố gắng, sự đóng góp của mỗi người đối với công việc. Khái niệm nguồn nhân lực “Nguồn lực con người” hay “nguồn nhân lực” (tên tiếng Anh là Human Rescource), là khái niệm được hình thành trong quá trình nghiên cứu, xem xét con người với tư cách là một nguồn lực, là động lực của sự phát triển. Khái niệm “nguồn nhân lực” được John R.
Commons, một nhà kinh tế chính trị học người Mỹ, đưa ra trong cuốn sách xuất bản năm 1893 với tiêu đề “Phân phối của cải” (The Distribution of Wealth). Tuy nhiên, phải đến thế kỷ XIX thuật ngữ này mới được sử dụng rộng rãi. Ngày nay, khi nhân loại bước vào nền kinh tế tri thức, người ta tiếp tục đề cập đến nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh 9 tế thì đối với các nhà quản lý ở mọi lĩnh vực, vấn đề quản lý nhân lực được đặt lên hàng đầu. Không ngừng bồi dưỡng nhân lực, tạo điều kiện để phát huy tài năng, trí sáng tạo phục vụ cho sự phát triển của đơn vị.
Trần Kim Dung đã đưa ra khái niệm về nguồn nhân lực như sau: “Nguồn nhân lực của một tổ chức được hình thành trên cơ sở của các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định”. Mai Quốc Chánh: “Nguồn nhân lực là tổng hợp cá nhân những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể chất và tinh thần được huy động vào quá trình lao động”. + Cũng theo PGS. Mai Quốc Chánh và PGS.TS Phạm Đức Thành: “Nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, là yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất, giữ vai trò quyết định của sự phát triển kinh tế - xã hội của mọi quốc gia”.
Nguyễn Tiệp, nguồn nhân lực là nguồn lực con người, yếu tố quan trọng, năng động nhất của tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội. Môi giới - Môi giới là hành vi làm trung gian cho các bên tiếp xúc, đàm phán và thiết lập các quan hệ để hưởng thù lao. Nội dung của hoạt động môi giới thường chỉ gồm việc tìm kiếm khách hàng và tiến hành một số đàm phán ban đầu với họ, tổ chức cho người được môi giới tiếp xúc với khách hàng và hỗ trợ các bên trong việc đàm phán và kí kết hợp đồng. Khác với người đại diện, người môi giới không trực tiếp giao kết hợp đồng với khách hàng.
- Môi giới thương mại là một trong bốn hoạt động trung gian thương mại mà Luật thương mại 2005quy định. Xét về bản chất thì môi giới thương mại là một loại hình dịch vụ thương mại. Theo Từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học, môi giới được hiểu là làm trung gian để cho hai bên tiếp xúc, giao thiệp với nhau. - Tương tự với cách hiểu thông thường về môi giới, Điều 150 Luật thương mại 2005đã định nghĩa môi giới thương mại như sau:“Môi giới thương mại là hoạt 10 động thương mại, theo đó một thương nhân làm trung gian (gọi là bên môi giới) cho các bên mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ (gọi là bên được môi giới) trong việc đàm phán, giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa, dịch vụ và hưởng thù lao theo hợp đồng môi giới”.
Khái niệm nhân viên môi giới bất động sản Nhân viên môi giới bất động sản là người trung gian giữa người mua (cần thuê) và người bán (cho thuê), thường được trả công theo một tỷ lệ nào đó trên tổng giá trị giao dịch được gọi là hoa hồng. Nhân viên môi giới bất động sản có ý nghĩa cụ thể hơn so với một nhân viên bán hàng ở chỗ, nhân viên bán hàng chỉ đơn thuần là tìm kiếm người mua còn nhân viên môi giới bất động sản là tìm kiếm và kết nối người bán và người muốn mua bất động sản. Khái niệm đào tạo nguồn nhân lực Theo Bách khoa toàn thư, đào tạo nguồn nhân lực là quá trình tác động đến một con người nhằm làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo. một cách có hệ thống để chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công lao động nhất định, góp phần của mình vào khả năng phát triển xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh của loài người.
Trong lý thuyết về đào tạo nguồn nhân lực, có rất nhiều khái niệm khác nhau của các nhà nghiên cứu trong nước và ngoài nước, ví dụ như: DeCenzo D.A & Robbins cho rằng các khái niệm giáo dục, đào tạo, phát triển đều đề cập đến một quá trình tương tự: quá trình cho phép con người tiếp thu các kiến thức, học các kỹ năng mới và thay đổi các quan điểm hay hành vi và nâng cao khả năng thực hiện công việc của cá nhân. Tác giả Gary Dessler (2002) định nghĩa đào tạo là hoạt động trang bị cho người lao động các kỹ năng cần thiết để họ thực hiện được công việc của mình. “Đào tạo nguồn nhân lực (gọi tắt là đào tạo) là quá trình truyền đạt và lĩnh hội những kiến thức và kỹ năng cần thiết để người được đào tạo có thể thực hiện được các công việc, chuyên môn hoặc một nghề nào đó trong tương lai. Đào tạo gắn 11 liền với quá trình học tập và giảng dạy.
Nếu quá trình đào tạo không có giảng dạy thì quá trình đó gọi là quá trình tự đào tạo do người học tự học tập nâng cao trình độ của mình thông qua các tài liệu sách báo và thực tế hoạt động. Trần Xuân Cầu, 2012, trang 91). “Đào tạo là tiến trình với nỗ lực cung cấp cho nhân viên những thông tin, kỹ năng và sự thấu hiểu về tổ chức cũng như mục tiêu. Thêm vào đó, đào tạo được thiết kế để giúp đỡ, hỗ trợ nhân viên tiếp tục có những đóng góp tích cực cho tổ chức.
Trong nghiên cứu của PGS.Trần Kim Dung (2015, trang 190), bà ủng hộ quan điểm của Cenzo và Robbins, “điểm tương đồng giữa đào tạo và phát triển là chúng đều có các phương pháp tương tự, được sử dụng nhằm tác động lên quá trình học tập để nâng cao các kiến thức, kỹ năng thực hành. Tuy nhiên, đào tạo có định hướng vào hiện tại, chú trọng vào công việc hiện thời của cá nhân, giúp các cá nhân có ngay các kỹ năng cần thiết để thực hiện tốt công việc hiện tại. Còn phát triển nhân viên nhằm chú trọng lên các công việc tương lai trong tổ chức, doanh nghiệp. Khi một người được thăng tiến lên những chức vụ mới, họ cần có những kiến thức, kỹ năng mới theo yêu cầu mới của công việc.
Công tác phát triển nhân viên sẽ giúp cho các cá nhân chuẩn bị sẵn các kiến thức, kỹ năng cần thiết đó.