Chương 1: Cơ sở lý luận bảo đảm tiền vay bằng tài sản trong Ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng bảo đảm tiền vay tại NHNo&PTNT Chi nhánh Hải Châu Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác bảo đảm tiền vay bằng tài sản tại NHNo&PTNT chi nhánh Hải Châu 7. Tổng quan tài liệu nghiên cứu - Trong luận án tiến sĩ kinh tế, với đề tài “Định giá bất động sản thế chấp tại các ngân hàng thương mại Việt Nam” (bảo vệ năm 2011), tác giả Ngô Thị Phương Thảo đã tập trung nghiên cứu những nội dung liên quan với mục tiêu hoàn thiện định giá bất động sản thế chấp trong các NHTM Việt Nam, luận án đã đưa ra một số kiến nghị: (1) Cần phải có những thay đổi về quan điểm và nhận thức trong hoạt động định giá bất động sản thế chấp của các NHTM theo hướng coi đây là một hoạt động nhằm tạo tính thanh khoản cho hàng hóa bất động sản trên thị trường tài chính thứ cấp phát triển trong tương lai, để từ đó có những định hướng đúng đắn cho việc định giá bất động sản thế chấp; (2) Cần xây dựng qui trình và phương pháp định giá thống nhất theo loại hình NHTM; (3) Xây dựng tiêu chí đánh giá và điểm đánh giá của từng tiêu chí trong quá trình điều chỉnh các yếu tố so sánh nhằm khắc phục những hạn chế của phương pháp định giá so sánh; các NHTM cần tiến hành xây dựng đơn giá đất thị trường; (4) Cần tạo điều kiện cho việc phát triển hoạt động thế chấp bất động sản, đặc biệt là sự phát triển của thị trường tài chính bất động sản. 5 - Luận văn cao học của tác giả Lưu Thị Hồng Hạnh với đề tài “Thực tiễn cho vay có bảo đảm bằng tài sản đối với khách hàng cá nhân tại Ngân hàng thương mại cổ phần Quân Đội” (bảo vệ năm 2011) đã tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận cơ bản về cho vay có bảo đảm bằng tài sản đối với khách hàng cá nhân, trong đó nhấn mạnh vào khía cạnh pháp lý của hoạt động này. Đề tài đã phân tích, đánh giá thực tiễn cho vay có bảo đảm bằng tài sản đối với khách hàng cá nhân, có nhấn mạnh trọng tâm vào khía cạnh kỹ thuật nghiệp vụ và khía cạnh pháp lý của hoạt động cho vay tại ngân hàng TMCP Quân Đội.
Từ đó tác giả đã đề xuất một số kiến nghị (tập trung vào khía cạnh kỹ thuật, nghiệp vụ và pháp lý) nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay có bảo đảm bằng tài sản đối với khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Quân Đội. Đề tài :“Bảo đảm tiền vay tại Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Quận Sơn Trà, TP Đà Nẵng”, Luận văn Thạc sỹ tác giả Lương Minh Trí, bảo vệ tại Đại học Đà nẵng năm 2011. Tác giả tập trung nghiên những vấn đề về bảo đảm tiền vay (cả có tài sản và không có tài sản) tại Chi nhánh NHNo&PTNT Quận Sơn Trà nhằm hệ thống hoá cơ sở lý luận về bảo đảm tiền vay. Đồng thời, tác giả còn nghiên cứu thực tế về chất lượng của công tác bảo đảm tiền vay tại Chi nhánh Ngân hàng No &PTNT Quận Sơn Trà để đề ra các giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động BĐTV tại Chi nhánh.
Luận văn thạc sỹ luật học của tác giả Trương Thị Kim Dung với đề tài “Các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng tín dụng Ngân hàng” (bảo vệ năm 1996). Tác giả đã tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận về bảo đảm thực hiện hợp đồng, thực tiễn việc áp dụng các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng tín dụng, đặc biệt nhấn mạnh và nghiên cứu chuyên sâu về khía cạnh pháp lý của vấn đề này. Từ đó tác giả đã đề xuất một số biện pháp nhằm 6 hạn chế rủi ro pháp lý, bảo vệ ngân hàng khỏi những rủi ro này khi áp dụng các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng tín dụng. Luận văn thạc sỹ luật học của tác giả Trần Thị Thu Thủy với đề tài “Chế định bảo đảm hợp đồng tín dụng ngân hàng – Thực trạng và giải pháp” (bảo vệ năm 1998).
Trong luận văn này, tác giả đã nghiên cứu thực trạng các vấn đề chuyên sâu về khía cạnh pháp lý về bảo đảm hợp đồng tín dụng. Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện các chế định bảo đảm hợp đồng tín dụng ngân hàng. - Ngoài ra, trong thời gian qua cũng đã có nhiều bài đăng trên các tạp chí chuyên ngành đề cập đến các khía cạnh khác nhau liên quan đến vấn đề BĐTV như: “Biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại: một số nhận định từ góc độ pháp lý đến thực tiễn” (ThS Nguyễn Thùy Trang, Tạp chí Ngân hàng, số 23/2010); “Thực tiễn cơ chế bảo đảm tiền vay đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa” (Trần Minh Sơn, tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 128 – năm 2008); “Bàn về đánh giá tài sản đảm bảo tiền vay hiện nay”, (ThS Huỳnh Kim Trí , Cổng thông tin điện tử Vietinbank - 2012); “Hoàn thiện pháp luật bảo đảm tiền vay trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế” (Nguyễn Văn Phương, Tạp chí Ngân hàng, số chuyên đề 11/2007); “10 vấn đề pháp lý trong việc thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất” (Trương Thanh Đức, Tạp chí Ngân hàng, số 4 năm 2005); … Tuy nhiên, các công trình này chủ yếu mới dừng lại ở việc đánh giá, tổng kết thực tiễn chứ chưa đi sâu vào nghiên cứu một cách có hệ thống các cơ sở lý luận về BĐTV. Mặt khác, những công trình nghiên cứu nói trên mới chỉ tập trung làm rõ vấn đề về cho vay có bảo đảm bằng tài sản đối với khách hàng cá nhân, đa số các đề tài tập trung nghiên cứu về những khía cạnh pháp lý của vấn đề BĐTV.
Tuy nhiên, trong thực tế cho vay có thể có bảo đảm bằng tài 7 sản hoặc không có tài sản bảo đảm bằng tài sản; khách hàng vay có thể là khách hàng cá nhân hoặc khách hàng doanh nghiệp. Một số vấn đề các đề tài trước chưa tập trung nghiên đó là: Những các tiêu chí đánh giá kết quả hoàn thiện công tác BĐTV, xác định những nhóm nhân tố ảnh hưởng đến công tác BĐTV…Hơn nữa, hầu hết các công trình nghiên cứu đã được thực hiện khá lâu, đến nay bối cảnh kinh tế - xã hội đã có những thay đổi nhất định, nhất là kể từ khi nước ta gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và trong bối cảnh cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu hiện nay, tác động không ít đến khu vực tài chính - ngân hàng của Việt Nam. 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN BẢO ĐẢM TIỀN VAY BẰNG TÀI SẢN TRONG NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. TỔNG QUAN VỀ BẢO ĐẢM TIỀN VAY 1.
Khái niệm về bảo đảm tiền vay Bảo đảm tiền vay hay còn gọi là bảo đảm tín dụng là việc bảo vệ quyền lợi của người cho vay (NHTM) dựa trên cơ sở thế chấp, cầm cố tài sản thuộc sở hữu của người đi vay (khách hàng) hoặc bảo lãnh của bên thứ ba. Bảo đảm tín dụng còn được hiểu là việc thiết lập các cơ sở kinh tế và pháp lý tạo điều kiện cho Ngân hàng thoả mãn nhu cầu thu hồi tín dụng đã cấp trong trường hợp người vay không thực hiện trả nợ theo quy định. Như vậy, thực chất BĐTV là một trong những biện pháp để phòng ngừa rủi ro của tổ chức tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng đưa ra các hình thức bảo đảm thích hợp áp dụng cho từng đối tượng khách hàng và biện pháp xử lý các bảo đảm đó nhằm hạn chế tổn thất khi rủi ro tín dụng xảy ra. Chức năng của bảo đảm tiền vay - Giảm bớt tổn thất cho Ngân hàng khi khách hàng vì một lý do nào đó không thực hiện thanh toán được nợ cho Ngân hàng.
Giúp Ngân hàng có nguồn thu nợ thứ hai. + Bảo đảm tiền vay được xác định như là nguồn thu nợ thứ hai của các ngân hàng. Khi cấp tín dụng ngân hàng đã xác định được nguồn thu nợ thứ nhất cho việc thu hồi khoản vay, đối với cho vay vốn cố định thì nguồn này chủ yếu là từ khấu hao và lợi nhuận để lại, đối với cho vay vốn lưu động thì nguồn thu là doanh thu, còn cho vay tiêu dùng thì đó là phần chênh lệch giữa thu nhập và chi phí. Tuy nhiên vẫn có rất nhiều tình huống mà nguồn thu nợ thứ nhất không thể thực hiện được, khi đó đòi hỏi ngân hàng phải tính đến 9 nguồn thu nợ thứ hai để bảo đảm thu hồi vốn.
Vì thế khi cấp tín dụng ngân hàng thường yêu cầu khách hàng phải thực hiện BĐTV. Đó là biện pháp nhằm hạn chế rủi ro, giúp ngân hàng có đủ cơ sở pháp lý để có nguồn thu nợ thứ hai khi nguồn thu thứ nhất không thực hiện được. - Gắn trách nhiệm vật chất của người đi vay trong quá trình sử dụng vốn. Làm động lực thúc đẩy khách hàng thực hiện nghĩa vụ trả nợ.
Nếu không trả được nợ sẽ mất tài sản và tốn kém chi phí nhiều hơn. + Bảo đảm tiền vay cũng gắn liền với trách nhiệm vật chất của nguời đi vay, bảo đảm khách hàng sử dụng vốn đúng mục đích và có hiệu quả tránh tổn thất cho ngân hàng. Nhờ BĐTV mà ngân hàng có thể thu được nợ khi khách hàng cố tình không trả nợ. Do đó các tranh chấp được hạn chế, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động vay vốn của các TCTD cũng như sự phát triển của kinh tế - xã hội.
- Bảo đảm tiền vay kích thích hoạt động cho vay của các TCTD. + Bảo đảm tiền vay là một điều kiện để xét cấp tín dụng, giúp cho ngân hàng có thể mở rộng tín dụng cho khách hàng. Nhờ có BĐTV mà ngân hàng có thể dễ đưa ra quyết định cho vay hơn, góp phần mở rộng thị phần của ngân hàng và tăng năng lực cạnh tranh cho ngân hàng. + Thực hiện BĐTV giúp cho ngân hàng có thể bảo toàn vốn vay, tăng khả năng cung ứng vốn cho nền kinh tế.
Ngoài ra, bảo đảm tiền vay còn có vai trò là giải pháp để khắc phục tình trạng thông tin bất đối xứng. Sự thành công của một ngân hàng trên thị trường phụ thuộc rất nhiều vào khả năng thu thập, xử lý cung cấp thông tin để đánh giá khách hàng trước khi cho vay và giám sát hoạt động kinh doanh của khách hàng sau khi cho vay.