Chương 1 LUẬN CỨ KHOA HỌC VỀ SỬ DỤNG CễNG CỤ THUẾ TRONG QUẢN Lí NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP CễNG NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH 1. QUẢN Lí NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP CễNG NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH 1. Doanh nghiệp công nghiệp ngoài quốc doanh. "Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đớch thực hiện các hoạt động kinh doanh" [31].
Doanh nghiệp công nghiệp là những doanh nghiệp thực hiện các hoạt động sản xuất-kinh doanh theo phương pháp công nghiệp để sản xuất ra hàng hóa dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người và xã hội. Như vậy, nhiều sản phẩm công nghiệp sẽ không phải chỉ do các doanh nghiệp sản xuất ra. Tuy nhiên, tùy theo từng lĩnh vực và khía cạnh quản lý còn có những khái niệm về doanh nghiệp sau đõy: - Dưới giác độ quản lý, DN là một đơn vị kinh tế do Nhà nước hoặc các đoàn thể hoặc tư nhõn đầu tư vốn nhằm mục đớch chủ yếu là thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc hoạt động công ích góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế-xã hội của đất nước. Hiểu theo cách này thì các DN bao hàm cả DNNN và DNNQD nhưng không nhấn mạnh đến các DN có yếu tố nước ngoài.
4 - Dưới giác độ luật pháp, doanh nghiệp được hiểu là một tổ chức kinh tế có tên, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, đã đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện các hoạt động kinh doanh. Hiểu theo cách này thì DN sẽ bao gồm toàn bộ các loại hình DN kể cả DN có vốn đầu tư nước ngoài. Các hoạt động kinh doanh ở đõy được hiểu là việc thực hiện một hoặc một số công đoạn từ sản xuất đến tiêu thụ hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đớch kiếm lời. Tuy nhiên, cách khái quát này lại không nhấn mạnh đến các doanh nghiệp công ích hoặc các DNQD chuyên hoạt động công ích.
Như vậy, DN phải là một tổ chức tiến hành các hoạt động kinh doanh để kiếm lời. Doanh nghiệp có thể có những hoạt động không sinh lời trong những trường hợp cụ thể nào đó nhưng bản chất được thành lập ra là để kiếm lời. Việc phõn định giữa doanh nghiệp quốc doanh (DNNN) và DNNQD còn có nhiều quan điểm khác nhau, những khái niệm trên đõy hầu như nhấn mạnh hơn về mặt kinh doanh của các doanh nghiệp. Đõy chính là một trong những đặc điểm quan trọng nhất của doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
Doanh nghiệp nhà nước sẽ bao gồm cả các doanh nghiệp công ích và các doanh nghiệp kinh doanh. Doanh nghiệp nhà nước không hẳn sẽ chỉ là các doanh nghiệp nhà nước sở hữu và kiểm soát 100%, mà sẽ gồm cả những doanh nghiệp hỗn hợp nếu Nhà nước có tỷ trọng vốn lớn nhất và có quyền kiểm soát thực hiện mục tiêu kinh doanh và nghĩa vụ công ích. Chính vì vậy, nếu gọi là DNNN sẽ không phõn biệt được chính xác ranh giới giữa sở hữu Nhà nước và sở hữu hỗn hợp. Ngược lại, DNNQD chủ yếu là các DN kinh doanh nhưng cũng có lúc sẽ làm những công việc công ích.
Các DNNQD cũng có rất nhiều hình thức sở hữu, cách kiểm soát và loại hình kinh doanh. Nói đến DNQD và DNNQD là chủ yếu nói đế sự phõn định về sở hữu doanh nghiệp. Tuy nhiên, trong điều kiện nền kinh tế phát triển đa dạng thì hiểu theo khái niệm đó sẽ khó phõn định được các loại hình doanh nghiệp đa sở hữu. 5 Chính vì vậy, để phõn biệt DNQD và DNNQD phải xem xét trên nhiều khía cạnh khác của DN, đặc biệt là vấn đề sở hữu và quyền kiểm soát.
Tóm lại, DNCNNQD là một tổ chức kinh tế không thuộc sở hữu hoàn toàn hoặc sở hữu khống chế của Nhà nước, có tên, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định và đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định trong sản xuất kinh doanh công nghiệp. DNCNNQD là những DNCN không thuộc sở hữu của Nhà nước hoặc sở hữu khống chế của Nhà nước (Nhà nước sở hữu trên 50%). Ngoài ra, luật còn quy định các doanh nghiệp là DNNN khi Nhà nước sở hữu số vốn lớn gấp đôi sở hữu tư nhõn lớn nhất. Tuy nhiên, dưới giác độ nghiên cứu về thuế thì sở hữu khống chế ở đõy được hiểu là quyền sở hữu của Nhà nước gắn liền với quyền kiểm soát và sử dụng doanh nghiệp đó như là công cụ điều tiết của Nhà nước.
Như vậy, ranh giới DNNQD và quốc doanh sẽ rừ ràng hơn khi Nhà nước có nắm quyền kiểm soát và sử dụng doanh nghiệp đó khi cần thiết hay không. Mục đớch chính của sở hữu của Nhà nước cũng là nhằm khống chế và sử dụng doanh nghiệp để điều tiết. Cách hiểu này sẽ nảy sinh vấn đề khi phõn định loại hình doanh nghiệp trong hai trường hợp sau: Một là: Các doanh nghiệp trong đó Nhà nước chiếm tỷ trọng vốn lớn nhất với tư cách là phõn chia lợi nhuận đơn thuần và Nhà nước không có mục đớch sử dụng doanh nghiệp đó như là công cụ điều tiết. Hai là: Các doanh nghiệp, trong đó các thành phần kinh tế khác có chiếm phần sở hữu lớn hơn Nhà nước nhưng họ chỉ có mục đớch thu lợi nhuận đơn thuần nên Nhà nước vẫn duy trì quyền kiểm soát và điều tiết.
Những tình huống đặc biệt làm nảy sinh ranh giới phõn chia DNQD và DNNQD không đơn thuần là tên gọi mà phải phõn tích sõu xa hơn về bản chất của những loại hình này. Hai trường hợp trên thực chất là những tình huống cụ thể. Trường hợp thứ nhất, vẫn nên coi là DNQD vì xét theo giác độ 6 luật pháp thì Nhà nước có quyền điều tiết DN này nhưng có thể chưa tiến hành sử dụng làm công cụ điều tiết trong một giai đoạn nào đó. Trong trường hợp thứ hai thì ngược lại, Nhà nước chỉ tận dụng sở hữu vốn của mình tại DN đó để tham gia điều tiết trong từng giai đoạn cụ thể.
Về bản chất, thì sở hữu tư nhõn lớn nhất vẫn có quyền phủ quyết mặc dù họ có thể chưa sử dụng quyền hợp pháp này. Vì vậy, tiêu chí phõn định loại hình DNQD và DNNQD chính là hình thức sở hữu vốn. Quyền kiểm soát sẽ là đặc trưng cơ bản của DNQD nên có thời điểm Nhà nước sử dụng cũng có thời điểm Nhà nước không sử dụng. Đặc trưng của doanh nghiệp công nghiệp ngoài quốc doanh Trong công nghiệp, doanh nghiệp có nhiều loại hình khác nhau.
Nếu căn cứ vào hình thức sở hữu vốn, có doanh nghiệp công nghiệp quốc doanh (Nay gọi là doanh nghiệp công nghiệp Nhà nước - DNCNNN) và DNCNNQD. DNCNNQD như phõn tích ở trên chủ yếu bao gồm các doanh nghiệp tư nhõn, công ty TNHH, công ty cổ phần, liên doanh v. Nếu chia theo quy mô của DN, có ba loại DN là DN quy mô lớn, DN quy mô vừa và DN quy mô nhỏ. Nếu chia theo ngành hoạt động, có các doanh nghiệp công nghiệp, doanh nghiệp nông nghiệp và doanh nghiệp dịch vụ, du lịch, v.
Nếu chia theo chức năng hoạt động, có doanh nghiệp sản xuất, doanh nghiệp kinh doanh, doanh nghiệp dịch vụ tư vấn v. Tuy nhiên, nội dung của luận văn chỉ đề cập chủ yếu đến các loại hình doanh nghiệp chia theo hình thức sở hữu vốn và ngành hoạt động. Kết hợp hai tiêu chí này sẽ có các loại hình doanh nghiệp sau: DNCNQD, DNCNNQD ( bao gồm DN tư nhõn và các loại hình DN hợp tác: DN cổ phần, TNHH nhiều thành viên, hợp tác xã). Xét theo cách tiếp cận vi mô: Các DNCNNQD có những nét đặc trưng riêng do tính chất hình thức sở hữu của nó quyết định.
Hình thức sở hữu Nhà 7 nước cũng có nhiều hình thức từ thấp đến cao và hình thức hợp tác giữa Nhà nước với tư nhõn cũng ở nhiều mức độ. Căn cứ vào các đặc trưng về vốn, sở hữu và quyền kiểm soát quản lý để phõn biệt giữa DNNN và DNNQD. Khái niệm DNCNNQD ở đõy được hiểu là những DN không thuộc quyền sở hữu và chi phối chủ yếu của Nhà nước. Xét theo cách tiếp cận vĩ mô: DNCNNQD là các DN kinh doanh và DNCNQD là các doanh nghiệp công ích.
Các DNCCNNQD chủ yếu theo đuổi các mục tiêu kinh tế còn các DN công ích ngoài chức năng kinh doanh sẽ còn phải thực thi các mục tiêu kinh tế-xã hội. Sự khác nhau cơ bản ở đõy là mục tiêu hoạt động của DN. Mục tiêu kinh tế - xã hội là mục tiêu chính của DN quốc doanh. Xu hướng Nhà nước cũng chỉ cần nắm giữ các DN có vai trò đặc biệt trong nền kinh tế để thực hiện các chức năng quản lý nhà nước với nền kinh tế.
Trên cơ sở các trình bày trên và quan điểm của các nhà kinh tế học trong nước và trên thế giới có thể đưa ra những đặc trưng cơ bản của hai loại hình doanh nghiệp này như bảng 1.1: Các đặc trưng của DNCNQD và DNCNNQD TT Tiêu chí Đặc trưng của DNCNNQD Đặc trưng của DNCNQD 1 Sản phẩm Hàng hóa cá nhõn là chủ yếu Hàng hóa công cộng là chủ yếu 2 Đối tượng - Người tiêu dùng cụ thể - Nhiều đối tượng khác nhau phục vụ - Thị trường mục tiêu - Ngành, khu vực KT-XH 3 Mục tiêu - Hiệu quả tài chính - Phát triển kinh tế-xã hội hoạt động - Lợi nhuận - Hiệu quả kinh tế-xã hội - Mục tiêu "đơn": kinh doanh - Hiệu quả tài chính và đóng góp cho ngõn sách - Mục tiêu "kép" giữa xã hội và kinh doanh 4 Ra quyết - Trong phạm vi hẹp của người - Nhiều người, nhiều cấp tham định quản lý gia quyết định, chỉ đạo - Ràng buộc bởi luật pháp và - Ràng buộc bởi luật pháp, quy các nguyên tắc quản lý và triết chế đối với DNNN và nguyên 8 lý kinh doanh của công ty tắc, triết lý kinh doanh 5 Nguồn lực Thị trường yếu tố tự do - Thị trường yếu tố tự do - Đối tượng chính sách 6 Thanh toán Thanh toán trực tiếp theo giá cả - Đôi khi người sử dụng không thỏa thuận phải trả tiền hoặc trả dưới mức giá trị thật - Người trả tiền (CP) đôi khi lại không phải là người sử dụng Như vậy, giữa DNCNQD và DNCNNQD có những đặc trưng rất khác nhau đặc biệt là về mục tiêu, cách quản lý sản xuất và kinh doanh.