phần mở đầu, phần nội dung chính và phần kết luận, trong đó phần nội dung chính được kết cấu thành 3 chương, cụ thể là: 6 Chƣơng 1. Cơ sở khoa học về cơ chế tự chủ tài chính trong các đơn vị sự nghiệp công lập.Thực trạng cơ chế tự chủ tài chính tại Trường Đại học Luật Hà Nội Chƣơng 3. Giải pháp hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính tại Trường Đại học Luật Hà Nội. 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH TRONG CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP 1.
Khái quát chung về đơn vị sự nghiệp công lập 1. Khái niệm đơn vị sự nghiệp công lập Chính phủ thông qua các đơn vị công để cung cấp những hàng hóa và dịch vụ công. Dịch vụ công có thể được hiểu là những hoạt động dịch vụ của các tổ chức nhà nước hoặc của các doanh nghiệp, tổ chức xã hội, tư nhân được Nhà nước uỷ quyền thực hiện nhiệm vụ do pháp luật quy định, phục vụ những nhu cầu thiết yếu chung của cộng đồng, công dân; theo nguyên tắc không vụ lợi, đảm bảo sự công bằng và ổn định xã hội. Đơn vị sự nghiệp công lập là những đơn vị do Nhà nước thành lập hoạt động có thu thực hiện cung cấp các dịch vụ xã hội công cộng và các dịch vụ nhằm duy trì sự hoạt động bình thường của các ngành kinh tế quốc dân.
Các đơn vị này hoạt động trong các lĩnh vực y tế, giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ và môi trường, văn học nghệ thuật, thể dục thể thao, sự nghiệp kinh tế, dịch vụ việc làm. Đơn vị sự nghiệp công lập được xác định dựa vào các tiêu chuẩn sau: - Có văn bản quyết định thành lập đơn vị sự nghiệp của cơ quan có thẩm quyền ở Trung ương hoặc địa phương. - Được Nhà nước cung cấp kinh phí và tài sản để hoạt động thực hiện nhiệm vụ chính trị, chuyên môn và được phép thực hiện một số khoản thu theo chế độ Nhà nước quy định. - Có tổ chức bộ máy, biên chế và bộ máy quản lý tài chính kế toán theo chế độ Nhà nước hiện hành.
8 - Đơn vị sự nghiệp mở tài khoản tại KBNN để phản ánh các khoản kinh phí thuộc NSNN theo quy định của Luật NSNN; được mở tài khoản tiền gửi tại ngân hàng hoặc KBNN để phản ánh các khoản thu, chi của hoạt động dịch vụ. - Thực hiện nghĩa vụ với NSNN: ĐVSN có các hoạt động dịch vụ phải đăng ký, kê khai, nộp đủ các loại thuế và các khoản khác (nếu có), được miễn, giảm thuế theo quy định của pháp luật. - Được huy động vốn và vay vốn tín dụng: ĐVSN có hoạt động dịch vụ được vay vốn của các tổ chức tín dụng, được huy động vốn của cán bộ, viên chức trong đơn vị để đầu tư mở rộng và nâng cao chất lượng hoạt động sự nghiệp, tổ chức hoạt động dịch vụ phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và tự chịu trách nhiệm trả nợ vay theo quy định của pháp luật. - Việc quản lý và sử dụng tài sản: Đơn vị thực hiện đầu tư, mua sắm, quản lý, sử dụng tài sản nhà nước theo quy định của pháp luật về quản lý tài sản nhà nước tại ĐVSN.
Đối với TSCĐ sử dụng vào hoạt động dịch vụ phải thực hiện trích khấu hao thu hồi vốn theo quy định áp dụng cho các doanh nghiệp nhà nước. Số tiền trích khấu hao TSCĐ và tiền thu từ thanh lý tài sản thuộc nguồn vốn NSNN đơn vị được để lại bổ sung Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp. - Số tiền trích khấu hao, tiền thu thanh lý tài sản thuộc nguồn vốn vay được dùng để trả nợ vay, trường hợp đã trả đủ nợ vay đơn vị được để lại bổ sung Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp đối với số còn lại (nếu có). Đặc điểm của đơn vị sự nghiệp công lập - Thứ nhất, ĐVSN công lập là một tổ chức hoạt động theo nguyên tắc phục vụ xã hội, không vì mục đích lợi nhuận.
Trong nền kinh tế thị trường, các sản phẩm, dịch vụ do hoạt động sự nghiệp tạo ra đều có thể trở thành hàng hoá cung ứng cho mọi thành phần 9 trong xã hội. Việc cung ứng các hàng hoá này cho thị trường chủ yếu không vì mục đích lợi nhuận như hoạt động sản xuất kinh doanh. Nhà nước tổ chức, duy trì và tài trợ cho các hoạt động sự nghiệp để cung cấp những sản phẩm, dịch vụ cho thị trường trước hết nhằm thực hiện vai trò của Nhà nước trong việc phân phối lại thu nhập và thực hiện các chính sách phúc lợi công cộng khi can thiệp vào thị trường nhằm, hỗ trợ cho các ngành, các lĩnh vực kinh tế hoạt động bình thường, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài, đảm bảo nguồn nhân lực, thúc đẩy hoạt động kinh tế phát triển và ngày càng đạt hiệu quả cao hơn, đảm bảo và không ngừng nâng cao đời sống, sức khoẻ, văn hoá, tinh thần của nhân dân. - Thứ hai, sản phẩm của các ĐVSN công lập là sản phẩm mang lại lợi ích chung có tính bền vững và gắn bó hữu cơ với quá trình tạo ra của cải vật chất và giá trị tinh thần.
Sản phẩm, dịch vụ do hoạt động sự nghiệp tạo ra chủ yếu là những giá trị về tri thức, văn hoá, phát minh, sức khoẻ, đạo đức, các giá trị về xã hội. Mặt khác, sản phẩm của các hoạt động sự nghiệp chủ yếu tạo ra các "hàng hoá công cộng" ở dạng vật chất và phi vật chất, phục vụ trực tiếp hoặc gián tiếp quá trình tái sản xuất xã hội. Việc sử dụng những "hàng hoá công cộng" do hoạt động sự nghiệp tạo ra làm cho quá trình sản xuất của cải vật chất được thuận lợi và ngày càng đạt hiệu quả cao. Vì vậy, hoạt động sự nghiệp luôn gắn bó hữu cơ và tác động tích cực đến quá trình tái sản xuất xã hội.
- Thứ ba, hoạt động sự nghiệp trong các ĐVSN công lập luôn gắn liền và bị chi phối bởi các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước. Với chức năng của mình, Chính phủ luôn tổ chức, duy trì và đảm bảo hoạt động sự nghiệp để thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội. Để thực hiện những mục tiêu kinh tế - xã hội nhất định. Chính phủ tổ chức thực 10 hiện các chương trình mục tiêu quốc gia như: Chương trình xoá mù chữ, Chương trình chăm sóc sức khoẻ cộng đồng, Chương trình dân số - kế hoạch hoá gia đình, chương trình phòng chống AIDS, Chương trình xoá đói giảm nghèo, Chương trình phủ sóng phát thanh truyền hình.
Những chương trình mục tiêu quốc gia này chỉ có Nhà nước, với vai trò của mình mới có thể thực hiện một cách triệt để và có hiệu quả, nếu để tư nhân thực hiện, mục tiêu lợi nhuận sẽ lấn chiếm mục tiêu xã hội và dẫn đến hạn chế việc tiêu dùng sản phẩm hoạt động sự nghiệp, từ đó kìm hãm sự phát triển của xã hội. Phân loại đơn vị sự nghiệp công lập Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động, ĐVSN công lập bao gồm: ĐVSN công lập hoạt động trong lĩnh vực văn hoá nghệ thuật; ĐVSN công lập hoạt động trong lĩnh vực GDĐT ĐVSN công lập hoạt động trong lĩnh vực NCKH; ĐVSN công lập hoạt động trong lĩnh vực thể dục thể thao; ĐVSN công lập hoạt động trong lĩnh vực y tế; ĐVSN công lập hoạt động trong lĩnh vực xã hội; ĐVSN công lập hoạt động trong lĩnh vực kinh tế. Căn cứ vào chế độ sở hữu tài sản của các ĐVSN công lập và coi như công lập, các ĐVSN được phân loại để thực hiện quản lý, bao gồm: Các ĐVSN công lập của Nhà nước; Các ĐVSN của tổ chức chính trị và các tổ chức chính trị - xã hội; ngoài ra còn có các ĐVSN của các tổ chức xã hội - nghề nghiệp là những ĐVSN ngoài công lập như các ĐVSN trực thuộc Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật Việt Nam; các ĐVSN trực thuộc các tổ chức quần chúng khác,… Căn cứ vào nguồn thu sự nghiệp, các ĐVSN được phân loại để thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính như sau: - ĐVSN có thu tự đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên và chi đầu tư. - ĐVSN có thu tự đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên.
11 - ĐVSN có thu tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động thường xuyên. - ĐVSN do NSNN đảm bảo toàn bộ chi thường xuyên. Cơ chế tự chủ tài chính trong các đơn vị sự nghiệp công lập 1. Khái niệm, mục tiêu, nguyên tắc thực hiện cơ chế tự chủ tài chính 1.
Khái niệm cơ chế tự chủ tài chính TCTC là một khái niệm được sử dụng khi đồng thời quan tâm tới cả vấn đề tài chính và quyền tự chủ. Trong đó, vấn đề tài chính (theo từ điển tiếng Anh Oxford năm 2004) là những vấn đề có liên quan tới tài chính hay những vấn đề tiền bạc. TCTC bao gồm: các nguồn lực của tổ chức, các chi phí, việc lập kế hoạch chiến lược, phân bổ nguồn lực và quản lý tài chính của đơn vị. Vì vậy, chúng ta có thể nói rằng TCTC có mối quan hệ với các nguồn lực, các chi phí, sự phân bổ nguồn lực và quản lý tài chính.
Trong bối cảnh của Việt Nam, chúng ta nên hiểu quyền TCTC là tính đến cả yếu tố nguồn lực và chủ thể. Bởi vì, nếu ứng dụng hai quan điểm một cách riêng lẻ thì quyền TCTC của ĐVSN công lập có thể bị thu hẹp nhiều mặt. TCTC trong ĐVSN công lập phải được hiểu là tự do hóa, giảm bớt những ràng buộc mang tính chất mệnh lệnh hành chính của bộ máy quản lý quan liêu, bao cấp; trả lại cho các ĐVSN những quyền tự nhiên mà về bản chất là của chính nó, sinh ra nó thì nó phải có được những quyền đó để tồn tại. Có thể nhận thức được cơ chế TCTC là cơ chế tạo động lực ĐVSN công lập phát triển và gắn liền với cơ chế thị trường, lấy thị trường làm thước đo đánh giá các giá trị của hàng hoá và dịch vụ; nói cách khác, sự tồn tại và phát triển của chúng đều thông qua quan hệ với thị trường, thông qua đánh giá của thị trường, của người sử dụng, tiêu dùng hàng hoá và dịch vụ được cung cấp.
Cơ chế tự chủ tài chính là cơ chế quản lý nhằm tăng cường quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị về các mặt hoạt động tài chính.