Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của hoàn thiện cơ chế thanh tra đối với người nộp thuế tự khai, tự nộp. Chương 2: Thực trạng thực hiện cơ chế thanh tra đối với người nộp thuế TKTN ở Việt Nam. Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện cơ chế thanh tra đối với người tự khai, tự nộp thuế ở Việt Nam. 5 CHƢƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA HOÀN THIỆN CƠ CHẾ THANH TRA ĐỐI VỚI NGƢỜI NỘP THUẾ TỰ KHAI, TỰ NỘP 1.
LÝ LUẬN CHUNG VỀ CƠ CHẾ THANH TRA THUẾ. Khái niệm thanh tra. Thanh tra - tiếng Anh - Inspect - xuất phát từ gốc Latinh (In -Spectare) có nghĩa là “ nhìn vào bên trong” chỉ “một sự xem xét từ bên ngoài vào một số đối tượng nhất định” Theo từ điển tiếng Việt: “thanh tra (người thuộc cơ quan có thẩm quyền) kiểm tra, xem xét tại chỗ việc việc làm của địa phương, cơ quan, xí nghiệp”[tr838]. Với nghĩa này, thanh tra bao hàm nghĩa kiểm soát nhằm: “xem xét và phát hiện ngăn chặn những gì trái với quy định”[tr882].
Thanh tra thường đi kèm với một chủ thể nhất định: “Người làm nhiệm vụ thanh tra” “Đoàn thanh tra” và “đặt trong phạm vi quyền hành của một chủ thể nhất định”. Quan niệm về thanh tra hiện nay, Cũng như trong lịch sử nước ta được thể hiện với mức độ khác nhau qua mô hình các cơ qua nhà nước và quy định của Hiến pháp và Pháp luật. Thời kỳ phong kiến, khái niệm thanh tra chưa được sử dụng, nhưng có các chức quan làm công việc giống như thanh tra, đó là: Thời Lý có chức Giám thị đại phu (tả, hữu GTĐP); thời Trần có cơ quan gọi là “Ngự sử đài”, với chức năng gần giống như cơ quan thanh tra Nhà nước hiện nay và có chức “Quan ngự sử” đứng đầu Ngự sử đài; Thời Lê có hàm Giám nghị đại phu phong tặng cho bất cứ bề tôi nào dám nói thẳng, nói đúng sự thật; đời Lê Thánh Tông (1460-1497) “đặt ra chức Giám nghị sử để xem xét công việc ở 6 các đạo cho khỏi sự nhũng nhiễu” (Việt Nam sử lược - Trần Trọng Kim); Nhà Nguyễn (thời Gia Long 1802-1819) có lục bộ: Bộ lại, Bộ Hộ, Bộ Lễ, Bộ Binh, Bộ Hình, Bộ Công, “ngoài lục bộ có Đô Sát viện để giữ việc can gián vua và đàn hoặc các quan” Thời kỳ Việt Nam độc lập Ngày 23/11/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 64/SL thành lập Ban thanh tra đặc biệt, thuật ngữ “thanh tra” xuất hiện, quyền thanh tra được xác định và chính thức được giao cho Chính phủ. Hiến pháp năm 1946 chưa sử dụng thuật ngữ “thanh tra”.
Hoạt động thanh tra, kiểm tra chưa được giao cho một cơ quan chuyên trách nào, quyền kiểm soát đối với chỉnh phủ được giao cho Ban thường vụ của Nghị viện. Hiến pháp 1959 đã đề cập đến một số nội dung về kiểm tra việc thi hành các quyết định quản lý Nhà nước. Hiến pháp 1980 sử dụng thuật ngữ “ thanh tra” đối với nội dung là một chức năng của cơ quan quản lý Nhà nước. Hiến pháp 1992: Khái niệm thanh tra, kiểm tra được thể hiện rõ hơn tại các Điều 112, 115, 116, và 124; khoản 7 Điều 112 quy định Chính phủ có nhiệm vụ “tổ chức và lãnh đạo công tác kiểm kê, thống kê của Nhà nước, công tác thanh tra, kiểm tra Nhà nước, chống quan liêu, tham nhũng trong bộ máy Nhà nước; công tác giải quyết khiếu nại tố cáo của công dân” Pháp lệnh thanh tra 1990, hoạt động thanh tra của các tổ chức thanh tra được xác định là một chức năng thiết yếu của cơ quan quản lý Nhà nước.
Theo Luật thanh tra năm 2004 thì thanh tra là “việc xem xét, đánh giá, xử lý của cơ quan quản lý nhà nước đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự quản lý”. Theo giáo trình nghiệp vụ thuế của học Viện Tài chính thì thanh tra thuế là “hoạt động kiểm tra của tổ chức chuyên trách làm công tác thanh tra của cơ 7 quan thuế đối với đối tượng thanh tra nhằm phát hiện, ngăn ngừa, ngăn chặn những hành vi, vi phạm về thuế”[tr437] Tóm lại Thanh tra thuế là hoạt động kiểm tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với các tổ chức và cá nhân chịu sự quản lý trong việc thực hiện pháp luật về thuế nhằm kết luận đúng, sai, đánh giá ưu khuyết điểm, góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý thuế, phòng ngừa và xử lý các vi phạm pháp luật thuế. Mục đích của hoạt động thanh tra Mục đích của hoạt động thanh tra Mục đích vốn là mối quan tâm trong hoạt động của con người, là cái mà con người cần hướng tới (bằng các hình thức và giải pháp thích hợp) và giành cho được. Suy cho cùng công tác thanh tra nhằm hướng tới cái gì thì đó là mục đích của thanh tra.
Lênin dạy rằng “Ban thanh tra công nông không chỉ có nhiệm vụ thậm chí cũng không phải nhiệm vụ chủ yếu, “tóm bắt” và “vạch mặt” (đó là công việc của tư pháp; Ban thanh tra công nông có quan hệ mật thiết với tư pháp, nhưng tuyệt đối không đồng nhất với nó), mà đúng hơn là có nhiệm vụ biết sửa chữa. Sửa chữa một cách chính xác và kịp thời, đó là nhiệm vụ chính của Ban thanh tra công nông”. Khi nói về thanh tra, kiểm tra, Bác Hồ căn dặn “Cán bộ thanh tra giúp trên hiểu biết tình hình địa phương và cấp dưới, đồng thời giúp các địa phương kịp thời sửa chữa, uốn nắn nếu làm sai hoặc làm chậm”, “thanh tra là để theo dõi, xem xét kế hoạch, chỉ thị, chính sách đó các địa phương đã chấp hành như thế nào”,… 8 “Nếu họ làm sai hay gặp khó khăn, còn giúp họ làm cho đúng với Nghị quyết, chỉ thị của trên đưa xuống”. “Thường vì cơ quan, địa phương, bộ phận hay công việc nào có chỗ không đúng, chỗ sai lầm mới cần thanh tra”.
Chỉ thị 38/CT-TƯ ngày 20/2/1984 của Ban bí thư Trung ương Đảng nêu rõ “Mục đích của thanh tra là đánh giá chính xác những mặt làm đúng, làm sai trong việc chấp hành các Nghị quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật, kế hoạch Nhà nước…. Trước mắt cũng như lâu dài công tác thanh tra có tác dụng quan trọng, trực tiếp giữ gìn pháp luật Nhà nước, tăng cường trách nhiệm quản lý kinh tế, quản lý xã hội của bộ máy Nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động”. Nghị quyết 26-HĐBT ngày 15/2/1984 của HĐBT nêu rõ thanh tra là “nhằm mục đích pháp huy mặt đúng, ngăn ngừa sửa chữa cái sai, làm cho chủ trương chính sách của Đảng, Pháp luật Nhà nước được chấp hành nghiêm chỉnh và thi hành có hiệu quả thiết thực”. Pháp lệnh thanh tra ngày 01/4/1990 nêu rõ mục đích hoạt động thanh tra là “nhằm phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa, xử lý vi phạm, góp phần thúc đẩy hoàn thành nhiệm vụ, hoàn thiện cơ chế quản lý, tăng cường pháp chế XHCH, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, các quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và công dân”.
Luật thanh tra quy định mục đích của thanh tra là: “Hoạt động thanh tra nhằm phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật; phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền các biện pháp khắc phục; phát huy nhân tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân”. 9 Như vậy, mục đích của hoạt động thanh tra bao gồm cả xây dựng, phát huy những nhân tố tích cực và chống những tiêu cực, vi phạm phát luật. Tuy nhiên, vẫn còn có nhận thức khác nhau trên thực tế về mục đích của thanh tra là “xây dựng” hay “chống”. Thực tiễn chỉ đạo hoạt động thanh tra “thường người lãnh đạo, quản lý hay giao cho thanh tra làm những việc như: Chống tiêu cực (Ban 79); Chống tham nhũng (Quyết định 240); pháp lệnh chống tham nhũng và thường vì cơ quan địa phương, bộ phận hay công việc nào đó có chỗ không đúng, chỗ sai lầm mới cần thanh tra”.
Thực tế cũng có nơi, có lúc thanh tra nặng về “bới lông tìm vết”, “vạch lá tìm sâu”, nặng về nêu thiếu sót, khuyết điểm, quan trọng hoá chỗ sai, chỗ chưa đúng, mà nhẹ về giúp sửa chữa, giúp hiểu biết đúng hơn và hướng dẫn làm đúng. Do vậy có nơi, có chỗ, có lúc đã hiểu sai mục đích thanh tra. Hiểu thanh tra chỉ “xây” mà không “chống” hoặc chỉ “chống” mà không “xây” đều không đầy đủ và không đúng bản chất, mục đích của thanh tra. Mục đích của hoạt động thanh tra thuế Hoạt động thanh tra thuế nhằm: Bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức và cá nhân khi thực hiện chính sách pháp luật về thuế; Phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm phát luật về thuế.
Thực hiện cải cách hành chính trong lĩnh vực thuế, phát hiện những hạn chế chưa đồng bộ về cơ chế quản lý và chính sách thuế để kiến nghị cơ quan có thẩm quyền kịp thời sửa đổi bổ sung; Động viên, khen thưởng để phát huy nhân tố tích cực, đồng thời tăng cường chấn áp và xử lý nghiêm những hành vi tiêu cực trong việc thực hiện pháp luật thuế. Nguyên tắc hoạt động thanh tra thuế Nguyên tắc của hoạt động thanh tra nói chung và thanh tra thuế nói riêng là những chuẩn mực, yêu cầu mang tính định hướng chủ đạo cho hoạt động thanh tra; bao gồm 4 nguyên tắc cơ bản sau đây: 10 - Không được làm trái các quy định của pháp luật là nguyên tắc quan trọng nhất trong hoạt động thanh tra thuế. Nguyên tắc này đòi hỏi các đơn vị, cá nhân tham gia quá trình thanh tra thuế chỉ được thực hiện những quyền mà pháp luật cho phép và phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ mà pháp luật quy định. Mọi hành vi lạm dụng hoặc không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đều bị coi là hành vi không tuân thủ quy định của pháp luật và đều phải bị xử lý.
Thực hiện nguyên tắc này, chủ thể thanh tra (cơ quan, đoàn thanh tra và các thành viên) khi thực hiện nhiệm vụ thanh tra phải căn cứ vào các quy định của pháp luật để kết luận, kiến nghị những vấn đề thanh tra và chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết luận, kiến nghị của mình.