Chương 1: Cơ sở khoa học của chính sách thuế đối với bệnh viện quốc tế Chương 2: Thực trạng thực thi chính sách thuế đối với bệnh viện quốc tế từ thực tiễn tại Bệnh viện Việt Pháp Hà Nội Chương 3: Phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách thuế đối với bệnh viện quốc tế. 4 Luan van Chư ng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA CH NH S CH THUẾ ĐỐI VỚI BỆNH VIỆN QUỐC TẾ 1. Tổng quan về chính sách thuế đối với bệnh viện quốc tế. hái uát v chính ách thu đối v i bệnh viện quốc t.
h i ni n h của h * h i ni Thuế ra đời, tồn tại và phát triển cùng với sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước. Nó là một công cụ tài chính để tạo lập nguồn thu nhằm duy trì hoạt động của bộ máy hành chính Nhà nước và điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Trên thế giới có rất nhiều định nghĩa khác nhau về thuế tùy theo cách nhìn nhận từng góc độ. - Các nhà kinh điển cho rằng: “Thuế là cái mà nhà nước thu của dân nhưng không bù lại” và “thuế cấu thành nên phần thu của Chính phủ, nó được lấy từ sản phẩm của đất đai và lao động trong nước, x t cho cùng thì thuế được lấy ra từ tư bản hay thu nhập của người chịu thuế” Lê nin toàn tập - tập 15.
- Trên góc độ người nộp thuế: thuế được coi là khoản đóng góp bắt buộc mà mỗi tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho nhà nước theo luật kinh tế đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước. - Theo quan điểm luật pháp: thuế là khoản đóng góp theo quy định của pháp luật mà nhà nước bắt buộc mọi tổ chức và cá nhân phải có nghĩa vụ nộp vào ngân sách nhà nước. - Trên góc độ kinh tế học: thuế được xem như là một biện pháp đặc biệt theo đó, Nhà nước sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực tư sang khu vực công nhằm thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội của nhà nước. 5 Luan van Ở nước ta đến nay cũng chưa có định nghĩa thống nhất về thuế.
Theo từ điển tiếng việt Trung tâm từ điển học - 1998 , thuế là khoản tiền hay hiện vật mà người dân hoặc tổ chức kinh doanh, tùy theo tài sản, thu nhập, nghề nghiệp buộc phải nộp cho nhà nước theo mức quy định. Mặc dù còn rất nhiều các định nghĩa khác nhau, song khái quát chung có thể rút ra khái niệm tổng quát về thuế như sau: Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng. * n h Thuế mang bản chất giai cấp của Nhà nước. Sự khác nhau của nhà nước được thể hiện qua nội dung của việc thu thuế như: thu thuế của ai là chủ yếu, thu như thế nào, thu làm gì Thuế còn thể hiện tính chất xã hội rộng rãi bởi thuế được thu đối với toàn dân, liên quan đến mọi tổ chức, cá nhân trong xã hội.
Mọi người dân trong xã hội có nghĩa vụ đóng thuế đồng thời cũng có quyền kiểm tra xem nhà nước đã sử dụng các khoản đóng góp đó có hợp lý không? Mác viết: “Thuế là cơ sở kinh tế của bộ máy Nhà nước, là thủ đoạn giản tiêu cho kho bạc thu được bằng tiền hay sản vật mà người dân đóng góp để dùng vào mọi chi tiêu của nhà nước”. Và bản chất của thuế, theo nhà kinh tế học Ricardo 1772-1823 đã nói: “Thuế được cấu thành từ phần của Chính phủ lấy trong sản phẩm đất đai và lao động trong nước và x t cho cùng thì thuế được lấy vào tư bản hay thu nhập của người chịu thuế”. [17] Thuế là công cụ rất có hiệu lực để nhà nước sử dụng để quản lý xã hội và điều tiết nền kinh tế quốc dân.Thông qua các chính sách thuế, Nhà nước sẽ tạo hành lang, môi trường để các tổ chức, các nhân được bình đ ng phát triển. Điều đó cho thấy việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống thuế ngày càng khoa học, đơn giản dễ hiệu là vấn đề rất quan trọng và cần thiết.
Như vậy, thuế là một phạm trù kinh tế, tài chính khách quan, đồng thời cũng là một phạm trù lịch sử. 6 Luan van Bản chất của thuế được quyết định bởi các thuộc tính bên trong vốn có của thuế.Những thuộc tính đó có tính ổn định tương đối qua từng giai đoạn phát triển và biểu hiện thành những đặc trưng riêng có của thuế, qua đó giúp ta phân biệt giữa thuế với các công cụ tài chính khác. Những đặc trưng đó là: - Tính bắt buộc: Tính bắt buộc là thuộc tính cơ bản vốn có của thuế để phân biệt giữa thuế với các hình thức động viên tài chính khác của ngân sách Nhà nước. Nhà kinh tế học nổi tiếng Joseph E.
Stiglitz cho rằng: “Thuế khác với đa số những khoản chuyển giao tiền từ người này qua người kia: Trong khi tất cả những khoản chuyển giao đó là tự nguyện thì thuế lại là bắt buộc”. Đặc điểm này vạch rõ nội dung kinh tế của thuế là những quan hệ tiền tệ, được hình thành một cách khách quan và có một ý nghĩa xã hội đặc biệt - việc động viên mang tính chất bắt buộc của Nhà nước. - Tính không hoàn trả trực tiếp: Tính chất không hoàn trả trực tiếp của thuế được thể hiện ở chỗ: thuế được hoàn trả gián tiếp cho người nộp thuế thông qua các dịch vụ công cộng của Nhà nước. Đặc điểm này giúp ta phân biệt sự khác nhau giữa thuế với các khoản phí, lệ phí và tín dụng Nhà nước.
Sự không hoàn trả trực tiếp được thể hiện cả trước và sau khi thu thuế. Trước khi thu thuế, Nhà nước không hề cung ứng trực tiếp một dịch vụ công cộng nào cho người nộp thuế. Sau khi nộp thuế, Nhà nước cũng không có sự bồi hoàn trực tiếp nào cho người nộp thuế. Cũng như vậy, người nộp thuế không thể phản đối việc thực hiện nghĩa vụ thuế với lý do họ không được hoặc ít được sử dụng các dịch vụ công cộng.
Người nộp thuế cũng không có quyền đòi hỏi được hưởng những dịch vụ công cộng bằng với số thuế mà họ phải trả. - Tính pháp lý cao: Điều này được quyết định bởi quyền lực chính trị của Nhà nước. Nhà nước là một tổ chức chính trị, đại diện cho quyền lợi của giai cấp thống trị, thi hành các chính sách do giai cấp thống trị đặt ra để cai trị xã hội. 7 Luan van * h n i h Căn cứ vào tính chất của thuế giữa người nộp thuế và người chịu thuế người ta chia thuế làm hai loại: - Thuế gián thu Indirect taxes là loại thuế được cộng vào giá, là một bộ phận cấu thành của giá bán hàng hóa, dịch vụ, thuế được coi như là tài sản của Nhà nước.
Trên thực tế, loại thuế này thu vào tiêu dùng nhưng người tiêu dùng không trực tiếp đóng thuế cho nhà nước mà thông qua hoạt động sản xuất kinh doanh người bán nộp thay cho mình. Loại thuế này có ưu điểm là dễ thu, dễ điều chỉnh. Do tính chất nộp thuế gián tiếp nên người nộp thuế không cảm nhận được gánh nặng của loại thuế gián thu. - Thuế trực thu (Direct taxes là loại thuế trực tiếp thu vào thu nhập của các tổ chức kinh tế, cá nhân như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế đối với người có thu nhập cao.
Ngược lại với thuế gián thu, người chịu thuế trực thu đồng thời là người nộp thuế. Vì vậy, thuế này có ưu điểm công bằng hơn, thường là phù hợp với kết quả thu được của đối tượng, thu nhập cao thì nộp thuế cao và ngược lại. Tuy nhiên, thuế trực thu đánh trực tiếp vào thu nhập, nên người nộp thuế cảm nhận được gánh nặng thuế, gây nên tình trạng từ chối, trốn hoặc là lậu thuế. Hiện nay trên thế giới có xu hướng sử dụng thuế gián thu.
Bởi lẽ thuế này có phạm vi thu rất rộng, số thu lớn dễ thu, chi phí bỏ ra ít mà thu được nhiều. ư i nư ng i * h i ni h nh h ư i nư ng i Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư bỏ vốn và bất k hình thức giá trị nào khác vào nước tiếp nhận đầu tư để thực hiện sản xuất kinh doanh nhằm thu lợi nhuận hoặc đạt các hiệu quả xã hội. t theo chủ đầu tư, đầu tư nước ngoài bao gồm hai dòng vốn chính: - Dòng vốn chính thức (official flows): 8 Luan van h i n h nh h ODA-official Development Assistance): là những nguồn tài chính chuyển tới các nước đang phát triển mà được cung cấp bởi các tổ chức chính phủ trung ương và địa phương hoặc bởi cơ quan điều hành của các tổ chức này, có mục tiêu chính là thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phúc lợi của các nước đang phát triển, mang tính chất ưu đãi và có yếu tố không hoàn lại lớn hơn hoặc bằng 25%. i n h nh h OA- Official Aid): gồm các luồng tài chính thỏa mãn tất cả các điều kiện của OD , trừ việc luồng tài chính này có đích đến là các nền kinh tế chuyển đổi.
Các dòng vốn chính thức khác OOFs - Other Official : là những giap dịch thuộc khu vực chính thức nhưng không thỏa mãn những tiêu chí của ODA/OA. - Dòng vốn tư nhân (Private Flows) Đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI - Foreign Direct Invesment : là hình thức đầu tư trong đó có sự di chuyển vốn, tài sản, công nghệ hoặc bất k tài sản nào từ nước đầu tư sang nước tiếp nhận đầu tư để thành lập và kiểm soát doanh nghiệp nhằm mục đích sinh lợi. Đầu tư chứng khoán nước ngoài FDI - Foreign Porfolio Investment : là hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác hoặc thông qua các quỹ đầu tư chứng khoán, các định chế tài chính trung gian mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư. Tín dụng tư nhân quốc tế IPLs - International Private Loans : là hình thức đầu tư trong đó tổ chức hoặc cá nhân ở một nước cho các doanh nghiệp hoặc các tổ chức kinh tế ở một nước khác vay vốn và thu lợi nhuận qua lãi suất cho vay.