mở đầu cho thanh toán không dùng tiền mặt, tức là ngƣời gửi tiền không cần phải đến ngân hàng để lấy tiền mà chỉ cần viết giấy chi trả cho khách hàng (còn đƣợc gọi là séc), khách hàng mang giấy đến ngân hàng sẽ nhận đƣợc tiền. Các tiện ích của thanh toán không dùng tiền mặt (an toàn, nhanh chóng, chính xác, tiết kiệm chi phí) đã góp phần rút ngắn thời gian kinh doanh và nâng cao thu nhập cho các doanh nhân. Khi ngân hàng mở chi nhánh, thanh toán qua ngân hàng đƣợc mở rộng phạm vi, càng tạo nhiều tiện ích cho doanh nhân. * Các dịch vụ khác như: hoạt động kinh doanh ngoại tệ (là việc một ngân hàng đứng ra mua bán một loại tiền này lấy một loại tiền khác và hƣởng phí dịch vụ); quản lý ngân quỹ (là việc các ngân hàng mở tài khoản và giữ tiền của phần lớn các doanh nghiệp và nhiều cá nhân.
Nhờ đó, ngân hàng thƣờng có mối liên hệ chặt chẽ với nhiều khách hàng. Do có kinh nghiệm trong quản lý ngân quỹ và khả năng trong việc thu ngân, nhiều ngân hàng đã cung cấp cho khách hàng dịch vụ quản lý ngân quỹ, trong đó ngân hàng đồng ý quản lý việc thu và chi cho một công ty kinh doanh và tiến hành đầu tƣ phần thặng dƣ tiền mặt tạm thời vào các chứng khoán sinh lợi và tín dụng ngắn hạn cho đến khi khách hàng cần tiền mặt để thanh toán). Rủi ro tín dụng. Khái niệm và tính chất của rủi ro tín dụng.
* Khái niệm rủi ro tín dụng: Bất kỳ một khoản tín dụng nào đƣợc cấp ra đều phải tuân thủ theo hai nguyên tắc sau đây: - Khoản tín dụng đó phải đƣợc sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả. - Khoản tín dụng đó phải đƣợc hoàn trả cả gốc, lãi đúng kỳ hạn đã cam kết. Tuy nhiên, có thể là chủ quan hoặc khách quan trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, khiến cho các nguyên tắc trên bị vi phạm tức là khoản 6 z tín dụng đó không đƣợc hoàn trả đúng kỳ hạn đã cam kết. Điều này có thể gây ra các tổn thất cho ngân hàng nhƣ thiếu vốn khả dụng, mất khả năng thanh toán, giảm thu nhập….
Những tổn thất này ngƣời ta gọi là rủi ro tín dụng. Vậy, rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra những tổn thất ngoài dự kiến cho ngân hàng do khách hàng vay không trả đúng hạn, không trả, hoặc không trả đầy đủ vốn và lãi. Khi thực hiện cho vay một khách hàng cụ thể, ngân hàng không dự kiến là khoản cho vay đó sẽ bị tổn thất. Tuy nhiên, những khoản cho vay đó luôn hàm chứa rủi ro.
Một số ý kiến cho rằng trên quan điểm quản lý toàn bộ ngân hàng, tỷ lệ tổn thất dự kiến đối với hoạt động tín dụng luôn đƣợc xác định trƣớc trong chiến lƣợc hoạt động chung. Do vậy, khi tổn thất dƣới mức tỷ lệ tổn thất dự kiến, ngân hàng coi đó là một thành công trong quản lý. * Tính chất của rủi ro tín dụng: Để chủ động phòng ngừa rủi ro tín dụng (RRTD) có hiệu quả, nhận biết các đặc điểm của RRTD rất cần thiết và hữu ích. RRTD có những tính chất cơ bản sau: - RRTD mang tính gián tiếp: Bởi khi khách hàng gặp những tổn thất và thất bại trong quá trình sử dụng vốn, hay nói cách khác những rủi ro trong hoạt động kinh doanh của khách hàng thì khách hàng cũng không thể hoàn trả gốc và lãi vay ngân hàng đúng thời hạn và rủi ro trong hoạt động kinh doanh của khách hàng cũng chính là nguyên nhân chủ yếu gây nên RRTD của ngân hàng.
- RRTD có tính chất đa dạng và phức tạp: biểu hiện ở sự đa dạng, phức tạp của nguyên nhân, hình thức, hậu quả của RRTD do đặc trƣng ngân hàng là trung gian tài chính kinh doanh tiền tệ. Do đó khi phòng ngừa và xử lý RRTD phải chú ý đến mọi rủi ro, xuất phát từ nguyên nhân và hậu quả do RRTD đem lại để có biện pháp phòng ngừa phù hợp. - RRTD có tính tất yếu: Do nó là luôn tồn tại và gắn liền với hoạt động tín dụng của NHTM. Trong một thị trƣờng cạnh tranh không hoàn hảo và tình trạng thông tin bất cân xứng đã làm cho ngân hàng không thể nắm bắt đƣợc các dấu hiệu rủi ro một cách toàn diện và đầy đủ, điều này làm cho bất cứ khoản vay nào cũng 7 z tiềm ẩn rủi ro đối với ngân hàng.
Kinh doanh ngân hàng thực chất là kinh doanh rủi ro ở mức độ phù hợp và đạt đƣợc lợi nhuận tƣơng ứng. Tuy nhiên, ngân hàng cũng phải tính tới mối quan hệ ngƣợc chiều của rủi ro và lợi nhuận. Các loại rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng bao gồm 2 loại chính: - Rủi ro giao dịch: là loại rủi ro liên quan đến từng khoản vay hoặc từng khách hàng cụ thể. Đây là rủi ro có thể phát sinh liên quan đến quá trình thẩm định, xét duyệt cho vay, kiểm soát sau khi cho vay hoặc do sơ hở trong việc thực hiện bảo đảm tiền vay và những cam kết ràng buộc trong hợp đồng tín dụng.
- Rủi ro danh mục tín dụng: là loại rủi phát sinh liên quan đến sự kết hợp nhiều khoản tín dụng trong danh mục tín dụng của ngân hàng do sản phẩm không phù hợp hoặc quá tập trung cho vay vào một ngành, một lĩnh vực. Rủi ro tín dụng Rủi ro danh mục Rủi ro giao dịch (liên quan đến (liên quan đến 1 danh mục các khoản cho vay) khoản cho vay) Rủi ro xét duyệt Rủi ro kiểm soát Rủi ro bảo đảm Rủi ro cá biệt Rủi ro tập trung (liên quan đến việc (liên quan đến việc (liên quan đến (liên quan đến cho vay thẩm định, xét kiểm soát, theo dõi chính sách và hợp từng sản phẩm tín (do kém đa dạng duyệt cho vay) khoản vay) đồng cho vay) dụng) hoá danh mục tín dụng) Hình 1.1: Các loại rủi ro tín dụng 8 z 1. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng Có rất nhiều nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng nhƣ: từ phía ngân hàng, hoặc từ phía khách hàng, hoặc do khách quan. Quản lý RRTD cần xác định những nguyên nhân cụ thể, cách thức gây RRTD để có biện pháp đối phó và khắc phục.
Sau đây là một số nguyên nhân chính dẫn đến RRTD: * Nhóm nguyên nhân thuộc về ngân hàng: - Chính sách tín dụng không hợp lý, quá nhấn mạnh vào mục tiêu lợi nhuận, tăng trƣởng tín dụng quá nóng mà không tính tới các yếu tố cần và đủ dẫn đến cho vay đầu tƣ vào nhiều lĩnh vực hoặc ngành nghề mạo hiểm, tập trung nguồn vốn cho vay quá nhiều vào một doanh nghiệp hoặc một ngành, lĩnh vực kinh tế. - Do cạnh tranh của các ngân hàng mong muốn có tỷ trọng, thị phần cao hơn các ngân hàng khác. - Cán bộ tín dụng không tuân thủ chính sách và quy trình tín dụng, không chấp hành đúng quy trình cho vay, yếu kém về trình độ nghiệp vụ, vi phạm đạo đức kinh doanh. - Trong quá trình cấp tín dụng cán bộ tín dụng không quản lý theo dõi dòng tiền của khách hàng để thu nợ gốc và lãi đủ, đúng hạn.
- Định giá tài sản bảo đảm không chính xác, không thực hiện đầy đủ các thủ tục pháp lý cần thiết, không đảm bảo các nguyên tắc của tài sản bảo đảm. - Không theo dõi, giám sát thƣờng xuyên khách hàng hoặc tài sản đảm bảo, do đó không có hành động sớm nhằm hạn chế RRTD. - Do thiếu hiểu biết về thị trƣờng, thiếu thông tin hoặc phân tích thông tin không đầy đủ dẫn đến cho vay và đầu tƣ không hợp lý. Không tính đến chu kỳ của nền kinh tế, chu kỳ sống của sản phẩm, hàng hóa, nhất là đối với những ngân hàng có sự tập trung vào lĩnh vực bất động sản.
Điều này xuất phát từ yếu kém trong quản lý danh mục đầu tƣ tín dụng, trong đánh giá tình hình hoạt động kinh doanh của khách hàng. 9 z - Rủi ro pháp lý xảy ra khi các văn kiện tín dụng bị vô hiệu, quyền lợi của bên cho vay không đƣợc đảm bảo. * Nhóm nguyên nhân thuộc về khách hàng: - Khách hàng sử dụng vốn vay sai mục đích, thiếu thiện chí trong việc trả nợ trong khi biện pháp xử lý thu hồi nợ của ngân hàng tỏ ra kém hiệu quả. - Trình độ quản lý của khách hàng yếu kém dẫn đến sử dụng vốn vay kém hiệu quả hoặc thất thoát ảnh hƣởng đến khả năng trả nợ.
- Không báo cáo đúng về tình hình tài chính, hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng. - Bán tài sản đảm bảo mà không thông báo cho ngân hàng. - Do kinh doanh thua lỗ liên tục, hàng hóa không tiêu thụ đƣợc. - Chủ doanh nghiệp vay vốn thiếu năng lực quản lý, điều hành, tham ô, lừa đảo, mất đoàn kết trong nội bộ doanh nghiệp.
* Nhóm nguyên nhân khách quan do môi trường bên ngoài: - Tình hình chính trị, an ninh trong nƣớc và khu vực không ổn định, ảnh hƣởng trực tiếp đến yếu tố đầu vào, đầu ra. - Do thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn,. - Do khủng hoảng hoặc suy thoái kinh tế, lạm phát, mất thăng bằng cán cân thanh toán quốc tế, tỷ giá hối đoái biến động bất thƣờng. - Môi trƣờng pháp lý không thuận lợi, lỏng lẻo trong quản trị vĩ mô.
- Hệ thống thông tin không cân xứng ảnh hƣởng đến các quyết định kinh doanh cũng nhƣ các quyết định cho vay. Chính sách quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động của ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm và nguyên tắc quản trị rủi ro tín dụng 10 z * Khái niệm: Quản trị RRTD là quá trình xây dựng và thực thi các chiến lƣợc, các chính sách quản trị từ việc hoạch định chiến lƣợc đến việc tổ chức thực hiện, điều khiển và kiểm soát việc thực hiện chiến lƣợc phòng ngừa và xử lý rủi ro trong hoạt động tín dụng mà NHTM đã đề ra. * Một số nguyên tắc quản trị rủi ro: Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng là một Ủy ban bao gồm các chuyên gia giám sát hoạt động ngân hàng đƣợc thành lập vào năm 1975 bởi các Thống đốc Ngân hàng Trung ƣơng của nhóm G10 (Bỉ, Canada, Pháp, Ý, Đức, Nhật Bản, Hà Lan, Thụy Sỹ, Anh và Mỹ).
Ủy ban tổ chức họp thƣờng niên tại Ngân hàng thanh toán quốc tế (BIS) tại Washington (Mỹ) hoặc tại thành phố Basel (Thụy Sỹ).