Chương 1: Giới thiệu tổng quan về cơ sở, lý do hình thành đề tài, phạm vi giới hạn của đề tài, cấu trúc trình bày của Luận văn. Chương 2: Phần khảo sát các công trình nghiên cứu liên quan. Chương 3: Lý thuyết cơ sở được sử dụng trong đề tài Luận văn và lựa chọn giải thuật áp dụng mô hình. Chương 4: Trình bày cấu trúc, phương pháp tiếp cận để xây dựng phương pháp tích hợp giữa tối ưu và mô phỏng Chương 5: Kết luận và kiến nghị.1 Những vấn đề về hợp đồng supply contract [4]: 2.1 Khái niệm về supply contract: Supply contract là một dạng hợp đồng giữa người mua và nhà cung cấp.
Supply contract giúp đảm bảo việc cung cấp và giao hàng đúng hạn. Supply contract nêu rõ những vấn đề có thể phát sinh giữa người mua và nhà cung cấp và hướng giải quyết. Người mua có thể là nhà sản xuất mua nguyên liệu thô từ nhà cung cấp. Hoặc người mua có thể là nhà bán lẻ mua hàng hoá sản xuất từ nhà sản xuất.
Người mua và nhà cung cấp sẽ thoả thuận với nhau về những điểm sau trong supply contract: • Giá cả và lượng hàng giảm giá • Số lượng hàng mua tối thiểu và tối đa • Thời hạn giao hàng • Chất lượng sản phẩm và nguyên vật liệu • Những chính sách liên quan đến việc trả hàng. Vai trò của supply contract trong chuỗi cung ứng: Các nhà nghiên cứu đã cho thấy supply contract là một phương pháp hữu hiệu, sử dụng còn hơn cả mục đích để đảm bảo việc cung cấp và nhu cầu hàng hoá đầy đủ. Hiện nay nhiều loại hợp đồng cung ứng (supply contracts) được tạo ra và được sử dụng. Nó giúp cho các bên tham gia ký kết hợp đồng không chỉ đảm bảo được việc cung cấp hàng hoá đầy đủ, mà cũng cải tiến được hiệu suất chuỗi cung ứng.
Điều này đạt được là do nhiều loại hợp đồng cho phép việc chia sẻ rủi ro giữa nhà cung cấp và nhà phân phối (distributors), nên gia tăng lợi nhuận cho cả hai.1 Tại sao có khái niệm coordinating supply contract, ưu điểm của coordinating supply contract: Trong một chuỗi cung ứng thông thường, người bán lẻ nhận thấy, rủi ro của việc tồn dư hàng hóa là nhiều hơn rủi ro của việc kinh doanh, tức là rủi ro không bán được hàng. Trong khi đó thì nhà sản xuất không có rủi ro. Do không có rủi ro, nên nhà sản xuất muốn người bán lẻ đặt hàng càng nhiều hàng hóa càng tốt. Trong khi đó, nhà bán lẻ lại giới hạn số lượng đặt hàng do lo sợ rủi ro về tài chánh.
Điều này dẫn đến khả năng thiếu hàng do nhà bán lẻ đặt hàng có giới hạn. Do đó xuất hiện khái niệm coordinating supply contract. Đó là khi nhà sản xuất, nhà cung cấp sẵn sàng và có khả năng chia sẻ rủi ro với nhà bán lẻ. Việc này giúp cho nhà bán lẻ có thuận lợi để đặt thêm hàng hóa.
Do đó giảm khả năng thiếu hàng và gia tăng lợi nhuận cho cả nhà sản xuất và người bán lẻ. Hợp đồng supply contract thường gặp (Wholesale price contract): Với loại hợp đồng wholesale price contract, nhà cung cấp (hay nhà sản xuất) sẽ tính tiền sản phẩm cung cấp cho người mua (nhà bán lẻ) với một giá bán sỉ là trên mỗi đơn vị sản phẩm mua vào. Hầu hết những nghiên cứu về hợp đồng bắt đầu từ những nghiên cứu về loại hợp đồng wholesale price contract. Vì loại hợp đồng này thường được sử dụng để ký kết theo thói quen.
Hợp đồng wholesale price contract (hợp đồng giá bán sỉ) rất đơn giản để được quản lý. Tuy nhiên, đối với loại hợp đồng whole sale price contract mà liên kết với chuỗi cung ứng, nhà cung cấp phải sẵn lòng cung cấp sản phẩm với chi phí gốc, điều này sẽ làm cho lợi nhuận của nhà cung cấp là zero.2 Phân loại coordinating supply contract, phân biệt với supply contract thường gặp (whole sale contract) như thế nào, ưu khuyết điểm của nó: Có 4 loại coordinating supply contract: 5 a)Buy-back contract: Loại hợp đồng này khác với hợp đồng supply contract thông thường ở chỗ: supply contract thông thường là loại mua đứt bán đoạn. Đối với buy-back contract, người bán sẽ đồng ý mua lại một số hàng hoá chưa bán được của người mua với giá cả thoả thuận. Ưu điểm của loại hợp đồng này là giúp cho nhà bán lẻ có xu hướng đặt thêm hàng, vì rủi ro hàng bán không hết đã giảm.
Khuyết điểm của hợp đồng này là rủi ro của nhà cung cấp ngày càng gia tăng. Do đó, loại hợp đồng này được thiết kế để gia tăng số lượng đặt hàng của nhà bán lẻ, nên sẽ giảm khả năng thiếu hàng, sẽ tốt hơn cả việc bồi thường cho nhà sản xuất do gia tăng rủi ro. Quy cách trả hàng (buy-back/ return policies): Hợp đồng buy-back (return policies) bao gồm 3 thông số là với. Trong đó là giá bán sỉ trên một đơn vị hàng hoá, là giá pay-back , và là phần trăm trả lại tối đa.
Đối với loại hợp đồng này, nhà sản xuất bán sản phẩm cho nhà bán lẻ với giá cho một đơn vị sản phẩm, và cho phép nhà bán lẻ trả lại tối đa sản phẩm vào cuối mùa đối với sản phẩm. Nếu , hợp đồng này được cho là hợp đồng full refund (trả lại toàn bộ). Nếu , hợp đồng là loại hợp đồng full return, trong trường hợp này, nhà bán lẻ có thể trả lại toàn bộ hàng hoá chưa bán được vào cuối mùa. Nếu , hợp đồng là dạng partial return (trả lại một phần), tức là nhà bán lẻ chỉ có thể trả lại một số lượng giới hạn hàng hoá chưa bán được cho nhà sản xuất (tối đa của sản phẩm).
b)Revenue – sharing contracts: Loại hợp đồng này khác với supply contract ở chỗ: supply contract quy định giá bán lẻ cao, do đó người bán lẻ có xu hướng đặt hàng với một số lượng giới hạn. Đối với hợp đồng revenue sharing contracts, người bán lẻ thuyết phục được nhà sản xuất giảm đi giá bán sỉ, do đó nhà bán lẻ có khuynh hướng mua hàng nhiều hơn. Người mua hàng chia sẻ một vài doanh thu của họ với người bán hàng với 6 mục đích sẽ có được mức giảm giá bán sỉ. Ưu điểm của loại hợp đồng này là: revenue – sharing contract khuyến khích người mua đặt thêm nhiều lượng hàng.
Cơ cấu của hợp đồng revenue sharing contract bao gồm hai thông số: cụ thể là (là giá bán sỉ trên một đơn vị) và phần trăm lợi nhuận của nhà bán lẻ chuyển cho nhà sản xuất ( Dana và Spier (2001) đã cho thấy rằng hợp đồng revenue sharing contract có giá trị trong những ngành công nghiệp phân chia theo chiều dọc (vertically separated industries) khi nhu cầu là stochastic (không thể đoán trước được) hay biến thiên (ví dụ như, giảm một cách có hệ thống). Nhìn chung, rất ít nghiên cứu về cơ cấu chia sẻ lợi nhuận trước đây. c) Quantity – flexibility contracts: Loại hợp đồng này khác với supply contract thông thường ở chỗ: supply contract là loại mua đứt bán đoạn. Trong khi đối với quantity – flexibility contracts, nhà cung cấp sẽ trả tiền lại cho những hàng hóa chưa bán được nếu số lượng hàng này nhỏ hơn một con số cụ thể.
Như vậy, quantity – flexibility contracts hơi khác với buy-back contract ở chỗ, buy-back contracts chỉ trả lại một phần tiền cho hàng hóa trả lại. Ưu điểm của loại hợp đồng này là giúp cho nhà bán lẻ có xu hướng đặt thêm hàng, vì rủi ro hàng bán không hết đã giảm. Khuyết điểm của hợp đồng này là rủi ro của nhà cung cấp ngày càng gia tăng. d)Sales rebate contracts: Dạng hợp đồng này khác với supply contract thông thường ở chỗ, nó giúp cho nhà bán lẻ có khuynh hướng gia tăng việc kinh doanh.
Do nhà cung cấp hạ giá thành cho những sản phẩm bán được hơn một số lượng cụ thể. e) Cơ cấu về quantity discounts (giảm giá theo số lượng) và license fee: Một nhà sản xuất cung cấp cho nhà bán lẻ việc giảm giá theo sản lượng tính theo số lượng hàng hoá mua bởi nhà bán lẻ. Nhà bán lẻ được giảm giá khi mua một số lượng hàng lớn hơn từ nhà sản xuất. Mua hàng càng nhiều thì nhà bán lẻ càng trả ít tiền cho một sản phẩm.2 Các điều kiện cần thỏa để áp dụng coordinating contract: Để áp dụng coordinating contract, các công ty phải có một số điều kiện cụ thể.
Ví dụ, đối với: ¾ Buy-back contracts: • Đòi hỏi nhà cung cấp phải có một hệ thống hậu cần ngược (reverse logistic system) hiệu quả, việc này có thể làm tăng chi phí hậu cần cho nhà cung cấp. • Giúp cho nhà bán lẻ có khuynh hướng đòi hỏi nhà cung cấp để mua được những sản phẩm cạnh tranh hơn. Những nhà cung cấp đang đề cập đến là những nhà cung cấp không có hợp đồng buy-back contract với nhà bán lẻ. ¾ Revenue – sharing contract: có một số mặt không thuận lợi sau: • Chi phí để quản lý toàn chương trình: đây là chi phí liên quan đến khả năng của nhà cung cấp trong việc giám sát thu nhập của nhà bán lẻ.
• Nhà bán lẻ có khuynh hướng đòi hỏi những sản phẩm cạnh tranh với lợi nhuận cao hơn. Do hợp đồng revenue – sharing contract làm giảm bớt lợi nhuận của nhà bán lẻ (chuyển cho nhà cung cấp). Nên nhà bán lẻ có khuynh hướng tập trung bán những sản phẩm khác. Những sản phẩm đó là sản phẩm tương tự của những nhà cung cấp cạnh tranh không có ký revenue – sharing contract với nhà bán lẻ.2 Các mô hình tính toán thông số cho coordinating supply contract, các giả định của mô hình: 2.
Phân tích cho trường hợp nhu cầu là xác định và phụ thuộc vào giá bán lẻ để ra quyết định đối với chuỗi cung ứng [2]: 8 Một chuỗi cung ứng gồm hai nhân tố: một người mua và một nhà cung cấp. Nhà cung cấp bán một sản phẩm có vòng đời xoay vòng ngắn (ví dụ: sản phẩm thời trang) cho người mua. Sau đó người mua hàng này lại bán lại sản phẩm này cho người tiêu thụ. Cả người mua và người bán đều có thể thiết lập giá tính tiền cho người tiêu thụ của họ.
Cả người mua và người bán đều có thông tin cân đối hoàn hảo cho hàm số về nhu cầu và chi phí.1: Một chuỗi cung ứng đơn giản (nhu cầu xác định, phụ thuộc giá bán lẻ) Gọi hàm nhu cầu của khách hàng cuối cùng đối với sản phẩm là D. Hàm số D phụ thuộc vào giá mà người mua hàng đặt ra, viết tắt là P.