phần mở đầu, nội dung, kết luận và khuyến nghị. Phần chính văn của luận văn có 3 chƣơng: Chƣơng 1 – Cơ sở lý luận, địa bàn nghiên cứu, phƣơng pháp nghiên cứu: mang lại nền tảng cơ sở lý luận, khái quát địa bàn nghiên cứu và tổng quan các phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng 2 – Hòa nhập xã hội của lao động nhập cƣ trong lĩnh vực lao động, việc làm: tập trung phân tích khía cạnh hòa nhập xã hội của lao động nhập cƣ trong lĩnh vực lao động, việc làm. Chƣơng 3 – Hoà nhập xã hội của lao động nhập cƣ trong đời sống 12 sinh hoạt thƣờng ngày: bàn về hòa nhập xã hội của lao động nhập cƣ trong đời sống sinh hoạt thƣờng ngày.
13 Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN, ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU, PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan các nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Nghiên cứu về hòa nhập xã hội rất đƣợc quan tâm trong các công trình nghiên cứu của nhiều quốc gia tiên tiến trên thế giới nhƣ Úc, Canada, Pháp, Mỹ từ những năm 80 của thế kỷ trƣớc… Những nghiên cứu này bắt nguồn từ khi vấn đề loại trừ xã hội (social exclusion) hoặc bên lề xã hội - là một thuật ngữ đƣợc sử dụng trên các lĩnh vực bao gồm giáo dục, xã hội học, tâm lý học, chính trị và kinh tế ở châu Âu, lần đầu tiên đƣợc sử dụng ở Pháp - đƣợc quan tâm giải quyết nhƣ một quan điểm chính trị của nhiều quốc gia. Ban đầu các nghiên cứu tập trung vào nhóm đối tƣợng yếu thế, dễ bị tổn thƣơng và nằm ngoài hệ thống bảo hiểm xã hội nhƣ ngƣời khuyết tật, ngƣời già, ngƣời thất nghiệp [18; Tr77].
Trong các chƣơng trình nghị sự của Hội đồng châu Âu vào những năm thập niên 90 và năm 2000 đã thông qua các chƣơng trình chống đói nghèo, tăng cƣờng sự cố kết xã hội nhƣ Chƣơng trình nghị sự Lisbon. Từ sau năm 2000, các quốc gia thuộc Liên minh châu Âu đã xây dựng các chƣơng trình hành động quốc gia về hòa nhập xã hội. Ở Canada, đầu những năm 2000, hàng loạt các nghiên cứu về hòa nhập xã hội đƣợc thực hiện nhằm hƣớng đến xây dựng các tiêu chí đánh giá quá trình hòa nhập thành công của các đối tƣợng yếu thế trong xã hội cũng nhƣ tạo dựng các hoạt động tăng cƣờng vai trò của thể chế, chính sách xã hội để nâng cao hiệu quả của hòa nhập xã hội. Trong một nghiên cứu về triển vọng chính sách trong cấu trúc hòa nhập xã hội của nhóm nhập cƣ ở Canada, các tác giả Ratna Omidvar và Ted 14 Richmond đã tiến hành phân tích bối cảnh xã hội, đặc điểm, vị trí và triển vọng các nhóm mới nhập cƣ ở Canada, từ đó đề xuất các gợi ý cho hoàn thiện chính sách theo các nội dung chính sau: 1) Tiếp cận việc làm và nghề nghiệp; 2) Quyền tự quản địa phƣơng và sự định cƣ ngƣời nhập cƣ; 3) Chính sách về sự phân chia nguồn lực; 4) Việc học tập của trẻ em và thanh niên; 5) Đƣợc bảo vệ quyền của ngƣời tị nạn; 6) Hỗ trợ tài chính cho sinh viên và vấn đề ngoài lề của ngƣời nhập cƣ; 7) Chính sách định cƣ hội nhập [18, tr.
Ở Úc, quan điểm về xã hội hòa nhập đã đƣợc chính quyền bang Nam Úc khởi xƣớng từ năm 2002 qua việc hình thành bộ phận “các sáng kiến về hòa nhập xã hội” (Government of South Australia 2009). Hoạt động này cũng có chút tƣơng đồng với các sáng kiến của Anh Quốc thời gian đó, chỉ có sự khác biệt về cách tiếp cận và tên gọi của các chƣơng trình hành động. Các lĩnh vực mà hoạt động hòa nhập xã hội hƣớng đến can thiệp bao gồm các vấn đề vô gia cƣ, sức khỏe tâm thần, giáo dục, khuyết tật, việc làm, ngƣời thổ dân, vấn đề nhập cƣ [11, tr. Nhƣ vậy, trên thực tế, hòa nhập xã hội đã đƣợc các quốc gia trên thế giới đầu tƣ nghiên cứu trên nhiều quan điểm và các thức tiếp cận khác nhau nhằm giải quyết vấn đề hòa nhập xã hội của các nhóm xã hội nhất định trong đó có nhóm lao động nhập cƣ.
Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam Tại Việt Nam, nghiên cứu về lao động di cƣ trên bình diện rộng đã đƣợc công bố nhƣ: “Di dân trong nước: Vận hội và thách thức với công cuộc đổi mới và phát triển Việt Nam” của tác giả Đặng Nguyên Anh (2005) tập trung chủ yếu vào nghiên cứu những tác động của di cƣ tới sự phát triển kinh tế đất nƣớc. Báo cáo “Di cư trong nước và phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam” do Veronique Marx và Katherine Fleischer thay mặt Nhóm điều phối Chƣơng trình về chính sách kinh tế và xã hội của Các Tổ chức Liên hiệp quốc tại Việt 15 Nam biên soạn năm 2010 đã khái quát đƣợc bối cảnh di cƣ trong nƣớc, tổng quan về di cƣ trong nƣớc ở Việt Nam và phân tích di cƣ và phát triển. Báo cáo này cũng đã đƣa ra các khuyến nghị cho các cấp quản lý trong đó ý cho rằng: “Cần nỗ lực hơn nữa để có thể đảm bảo rằng người dân di cư có thể hòa nhập được với cộng đồng di cư đến thông qua việc xóa bỏ đi sự kỳ thị và hỗ trợ người dân di cư tiếp cận với những chương trình xóa đói giảm nghèo và các dịch vụ xã hội khác” [1, Tr. Các công trình nghiên cứu tập trung về vấn đề lao động di cƣ từ nông thôn đến khu vực thành thị nhƣ “Di dân ngoại tỉnh vào thành phố Hà Nội: Vấn đề đặt ra và giải pháp” của tác giả Đinh Văn Thông (2010); “Quản lý nhà nước đối với lao động di cư trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa ở thủ đô Hà Nội” của tác giả Phạm Thị Hồng Điệp (2010) đa phần tập trung vào các vấn đề quản lý xã hội, chính sách, tác động của di cƣ đến kinh tế của địa phƣơng hoặc đất nƣớc.
Kết quả nghiên cứu của các đề tài nêu trên tập trung vào các khía cạnh nhƣ cách thức tìm kiếm nhà ở, việc làm, giáo dục, chăm sóc y tế… và các khó khăn mà ngƣời lao động gặp phải trong quá trình ổn định cuộc sống tại nơi định cƣ mới. Các nghiên cứu chƣa có sự phân tích sâu quá trình hòa nhập xã hội của ngƣời lao động trong các lĩnh vực đời sống. Liên quan đến hòa nhập xã hội, nhóm tác giả Nguyễn Tuấn Anh, Lê Thị Mai Trang, Phạm Văn Quyết (2012) qua công trình “Hòa nhập xã hội của nhóm lao động nghèo nhập cư ở Hà Nội” đã chỉ ra đƣợc thực trạng hòa nhập xã hội cảu nhóm lao động nhập cƣ và những khó khăn, trở ngại mà nhóm xã hội này gặp phải trong quá trình hòa nhập xã hội [1; Tr. Nhóm tác giả Phạm Văn Quyết, Trần Văn Kham (2015) với đề tài “Hòa nhập xã hội của người di cư tại các đô thị ở Việt Nam: hướng đến một mô hình trợ giúp xã hội” đã đƣa ra đƣợc kết quả nghiên cứu về sự tham gia xã hội của ngƣời di cƣ 16 qua phân tích số lƣợng bạn bè của ngƣời di cƣ ở đô thị, mức độ thăm viếng xã giao của ngƣời di cƣ; Cách thức ngƣời di cƣ giải quyết khó khăn trong cuộc sống cũng nhƣ chỉ ra mức độ tham gia vào các hoạt động tại địa phƣơng/nơi làm việc của ngƣời di cƣ [22, Tr.
Với đặc trƣng là một nƣớc đang phát triển và đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, ngƣời lao động di cƣ từ nông thôn đến thành thị ở Việt Nam là hiện tƣợng tự nhiên và luôn chiếm tỷ trọng lớn thứ hai trong các luồng di cƣ của ba thập kỷ qua. Kết quả của cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở mới nhất đƣợc thực hiện vào năm 2019 đã cho ra kết quả cả nƣớc có 39,4 triệu ngƣời sống ở các khu vực đô thị, chiếm 40,9% dân số cả nƣớc. Trong đó, số ngƣời nhập cƣ vào các đô thị là 4,9 triệu ngƣời tƣơng đƣơng 12,3% dân số đô thị [30; Tr. Vì vậy, những nghiên cứu chuyên sâu về sự hòa nhập của nhóm xã hội này là thực sự cần thiết nhằm đƣa ra các quyết sách hỗ trợ họ hƣớng tới sự bình đẳng trong xã hội 1.
Các khái niệm công cụ 1. Khái niệm “Hòa nhập xã hội” Hòa nhập xã hội là một thuật ngữ đƣợc nhắc đến nhiều trong các nghiên cứu quốc tế về lao động nhập cƣ từ cuối những năm 1990, khi các vấn đề xã hội liên quan đƣợc chú trọng giải quyết một cách toàn diện về cả mặt văn hóa, xã hội chứ không chỉ dừng lại ở sự hỗ trợ kinh tế thuần túy [1, tr. Hòa nhập xã hội (social inclusion) thƣờng đƣợc hiểu một cách chung nhất là quá trình mà trong đó cá nhân hoặc nhóm xã hội nào đó đƣợc xã hội tạo các điều kiện thuận lợi để tham gia một cách tích cực vào đời sống xã hội trong sự bình đẳng với các thành viên khác của xã hội [20; Tr. Trong khoa học xã hội, vấn đề hội nhập xã hội đƣợc nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và trở thành vấn đề đƣợc nghiên cứu rất phổ biến.
Ngƣời đầu tiên 17 đặt dấu ấn đậm nét trong nghiên cứu về hội nhập xã hội, đồng thời cũng là ngƣời đặt nền móng cho Chủ nghĩa chức năng là nhà xã hội học ngƣời Pháp Emile Durkheim (1789 - 1857). Quan điểm về hội nhập xã hội của ông đƣợc trình bày trong sự gắn kết chặt chẽ với khái niệm đoàn kết xã hội (social solidarity). Ông sử dụng khái niệm đoàn kết xã hội để chỉ các mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội, giữa các cá nhân với nhau, giữa cá nhân với nhóm xã hội. Nếu nhƣ không có sự đoàn kết xã hội thì các cá nhân riêng lẻ, biệt lập không thể tạo thành xã hội với tƣ cách là một chỉnh thể [20; Tr.
Thực tế cho thấy đã tồn tại nhiều quan điểm, hƣớng tiếp cận khác nhau, từ quan điểm thuần túy lý thuyết mang tính vĩ mô đến các quan điểm nghiên cứu thực tế hƣớng đến việc giải quyết vấn đề hòa nhập của các nhóm xã hội cụ thể. Nghiên cứu về hòa nhập xã hội luôn là một trong những vấn đề trọng tâm của khoa học xã hội, với cách tiếp cận hòa nhập xã hội từ hƣớng nghiên cứu Việt Nam học, nghiên cứu góp phần khái quát đặc tính, cách thích nghi, hội nhập của một bộ phận công dân Việt Nam. Khái niệm “Lao động nhập cư nông thôn” Lao động là hoạt động có mục đích của con ngƣời nhằm biến đổi các vật chất tự nhiên thành của cải vật chất cần thiết cho đời sống của mình.