phần mở đầu và kết luận, luận án đƣợc kết cấu thành 5 chƣơng bao gồm: - Chƣơng 1: Tổng quan tài liệu nghiên cứu liên quan đến luận án - Chƣơng 2: Cơ sở lý luận về hỗ trợ nhà nƣớc đối với hoạt động của DNNVV trong lĩnh vực nông nghiệp - Chƣơng 3: Phƣơng pháp nghiên cứu - Chƣơng 4: Thực trạng hỗ trợ nhà nƣớc đối với hoạt động của DNNVV trong lĩnh vực nông nghiệp tại Hà Nội - Chƣơng 5: Giải pháp hoàn thiện hỗ trợ nhà nƣớc đối với DNNVV trong lĩnh vực nông nghiệp tại Hà Nội. 4 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về hỗ trợ nhà nƣớc đối với DNNVV 1. Tổng quan các công trình ngoài nước.
Với vai trò quan trọng của doanh nghiệp trong nền kinh tế đã đƣợc nhiều quốc gia thừa nhân đồng thời cũng đã có một số công trình nghiên cứu ngoài nƣớc về hỗ trợ của nhà nƣớc đối với doanh nghiệp cụ thể nhƣ: Theo Carlsson. B và cộng sự (1997) cho rằng Nhà nƣớc không nên hỗ trợ trực tiếp cho các DNNVV mà nên thông qua các công cụ trung gian nhƣ thuế, tổ chức tƣ vấn… Chính sách thuế doanh nghiệp có ảnh hƣởng tiêu cực tới năng suất của các DNNVV, thêm vào đó các doanh nghiệp có quy mô càng lớn mức độ ảnh hƣởng càng cao. Jan Poucek và cộng sự (2006) nghiên cứu các vấn đề phát triển của DNNVV (SMEs) tại Cộng hòa Séc. Tác giả cho thấy quá trình chuyển đổi diễn ra trong nền kinh tế quốc gia Séc sau năm 1989 đã dẫn đến sự tăng trƣởng đáng kể về số lƣợng DNNVV và đóng góp quan trọng của họ trong nền kinh tế quốc gia Séc.
Tác giả phân tích chi tiết về các hình thức hỗ trợ cho các DNNVV thuộc thẩm quyền của cơ quan hành chính trung ƣơng Cộng hòa Séc. Các hình thức hỗ trợ đƣợc thành lập để loại bỏ các vấn đề của DNNVV do sức mạnh kinh tế thấp và khả năng huy động vốn để phát triển doanh nghiệp của họ. Jong Ha Lee và cộng sự (2011) điều tra mức độ hiệu quả của chính phủ trong việc thúc đẩy sự hài lòng của các doanh nhân nữ sử dụng mô hình phƣơng trình cấu trúc. Tác giả đã nghiên cứu tác động nhân quả từ chính sách hỗ trợ của Chính phủ và quy trình hỗ trợ của Chính phủ đối với sự hài lòng của nữ doanh nhân cùng với nhiều yếu tố cá nhân khác nhƣ năng lực cá nhân, cuộc sống gia đình, mạng xã hội và môi trƣờng kinh doanh.
Kết quả thực nghiệm cho thấy quá trình hỗ trợ của Chính phủ có hiệu quả cao nhất trong việc cải thiện sự hài lòng của các doanh nhân nữ. Tuy nhiên, mức độ hiện tại của quá trình hỗ trợ từ Chính phủ là tƣơng đối thấp và do đó cần phải đƣợc cải thiện. 5 Moha AsriAbdullah (1999) khái quát hỗ trợ của chính phủ Malaysia gồm có hỗ trợ tài chính và tín dụng; hỗ trợ kỹ thuật và đào tạo; dịch vụ khuyến nông và tƣ vấn; tiếp thị và nghiên cứu thị trƣờng; và hỗ trợ cơ sở hạ tầng. Tác giả cũng cho biết phần lớn các DNNVV không nhận đƣợc bất kỳ sự trợ giúp nào của chính phủ; sự trợ giúp mà các doanh nghiệp nhận đƣợc cũng khá đa dạng, tức là một số doanh nghiệp chỉ đƣợc nhận một loại hỗ trợ, trong khi những đối tƣợng khác đã sử dụng hai hoặc nhiều loại hỗ trợ.
Những lý do cho sự khác biệt về khả năng tiếp cận hỗ trợ cũng đƣợc trình bày trong nghiên cứu. Kết quả cho thấy khả năng tiếp cận hỗ trợ cho sự phát triển của các DNNVV vẫn còn hạn chế mặc dù thực tế là một chƣơng trình nghị sự chính sách cao đã đƣợc đƣa ra để thúc đẩy sự phát triển của nhóm doanh nghiệp này ở Malaysia. Dong Xiang và cộng sự (2013) sử dụng dữ liệu về doanh nghiệp do Cục Thống kê Úc biên soạn để kiểm tra hiệu quả hỗ trợ tài chính do chính phủ cung cấp cho các DNNVV (SMEs) của Úc trong giai đoạn xung quanh cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu gần đây (GFC). Tác giả đo lƣờng hiệu quả về mặt hiệu suất của công ty (thu nhập và lợi nhuận) và cải thiện khả năng tài chính phi chính phủ thay thế.
Nghiên cứu cho thấy hỗ trợ tài chính của chính phủ giúp các DNNVV cải thiện hiệu suất khi so sánh với các tác động của tài chính thông thƣờng. Ngoài ra nghiên cứu cũng tìm thấy một hiệu ứng thuận chiều với việc nhận tài chính từ khu vực phi chính phủ, theo đó một công ty nhận đƣợc hỗ trợ của chính phủ cho thấy các công ty có nhiều khả năng có đƣợc tài chính phi chính phủ trong năm tiếp theo. Do đó, các nhà đầu tƣ và chủ nợ đƣợc hƣởng lợi từ kết quả hỗ trợ tài chính của chính phủ. Cuối cùng, các yếu tố kiểm soát ảnh hƣởng đáng kể đến hiệu suất và tài chính của DNNVV bao gồm quy mô, mức độ đổi mới, mục tiêu kinh doanh và ngành.
Danlu Bu và cộng sự (2017) xem xét ảnh hƣởng của mục đích trợ cấp của chính phủ đối với hoạt động của công ty. Sử dụng bộ dữ liệu các công ty niêm yết của Trung Quốc từ năm 2007 đến 2012, nghiên cứu cho thấy rằng một khoản trợ cấp của chính phủ có ảnh hƣởng đến hiệu suất của công ty. Cụ thể, trợ cấp của Chính phủ có liên quan tiêu cực đến hiệu suất của công ty và tác động tiêu cực nhƣ vậy chủ yếu đƣợc thúc đẩy bởi một loại trợ cấp không đƣợc chỉ định. Hơn nữa, một hiệu ứng nhƣ vậy rõ rệt hơn đối với các doanh nghiệp nhà nƣớc (SOE) so với các 6 doanh nghiệp không phải là doanh nghiệp nhà nƣớc.
Năng lực cơ quan thực thi có tác động tích cực đến khả năng trợ cấp đƣợc chỉ định và tác động thực hiện của trợ cấp không đƣợc chỉ định. Các phân tích sâu hơn cho thấy rằng một khoản trợ cấp không đƣợc chỉ định làm giảm hiệu quả đầu tƣ và cả hoạt động tìm kiếm các khoản vốn vay khác. Nghiên cứu này làm sáng tỏ tác động của trợ cấp Chính phủ từ góc độ mới, và có ý nghĩa chính sách quan trọng đối với các cơ quan quản lý để cải thiện hiệu quả của trợ cấp chính phủ. Albena Pergelova & Fernando Angulo-Ruiz (2014) xem xét ảnh hƣởng hỗ trợ tài chính của Chính phủ đối với hoạt động của các công ty mới.
Nghiên cứu thực nghiệm mở rộng đã tìm thấy kết quả hỗn hợp, trong đó sử dụng cơ sở lý thuyết về tác động của các chính sách hỗ trợ đối với hiệu suất của các công ty mới. Sử dụng mô hình lý thuyết theo quan điểm dựa trên tài nguyên và lý thuyết thể chế, nghiên cứu này cho rằng kết quả thực hiện (ví dụ: doanh thu hoặc lợi nhuận) không nên là kết quả đầu tiên của các chính sách công đƣợc kiểm tra. Thay vào đó, sự hình thành lợi thế cạnh tranh đƣợc đề xuất nhƣ một liên kết giữa các chính sách hỗ trợ và hiệu suất của các công ty mới. Sử dụng các công ty mới từ Hoa Kỳ, chúng tôi kiểm tra tác động từ các biện pháp hỗ trợ tài chính của chính phủ (các khoản vay của chính phủ, bảo lãnh và vốn chủ sở hữu của chính phủ) đối với lợi thế cạnh tranh chung của các công ty và các loại lợi thế cạnh tranh cụ thể hơn dựa trên đổi mới, cấp phép, tiếp thị và nguồn nhân lực.
Kiểm soát tài trợ gia đình, tài chính ngân hàng, vốn chủ sở hữu của “các nhà đầu tƣ thiên thần” và nhà đầu tƣ mạo hiểm, ngành công nghiệp, quy mô cũng nhƣ đặc điểm của doanh nhân, kết quả cho thấy bảo lãnh Chính phủ và vốn góp của Chính phủ có ảnh hƣởng trực tiếp đến lợi thế cạnh tranh của các công ty mới và chỉ tác động gián tiếp đến hiệu suất. Các khoản trợ cấp của nhà nƣớc có ảnh hƣởng tích cực tới hoạt động R&D và đổi mới của doanh nghiệp tuy nhiên hiệu quả rõ nét nhất của hỗ trợ nhà nƣớc là hỗ trợ cho nghiên cứu. Theo đó khuyến nghị nhà nƣớc nên tăng ngân sách hỗ trợ cho hoạt động nghiên cứu mà giảm bớt ngân sách cho hoạt động hỗ trợ phát triển. H, 2009) “Việc hỗ trợ và thực hiện mở rộng các hoạt động nghiên cứu, phát triển của Nhà nƣớc Úc đã đóng một vai trò quan trọng trong việc tăng năng suất trong sản 7 xuất nông nghiệp của các doanh nghiệp nông nghiệp”.
Bên cạnh sự hỗ trợ trực tiếp cho R&D, các Chính phủ đổi mới hỗ trợ khu vực tƣ nhân cũng gián tiếp thông qua nghiên cứu đƣợc thực hiện tại các trung tâm nghiên cứu công và các trƣờng đại học. Ảnh hƣởng của các nghiên cứu công về R&D (tức là, trung tâm nghiên cứu R&D của trƣờng đại học và Chính phủ) về nghiên cứu và phát triển công nghiệp ở Mỹ dƣờng nhƣ đã tăng lên và lan rộng trên một tỷ lệ lớn hơn các ngành sản xuất so với những năm tám mƣơi. Nghiên cứu công khai cả hai đề xuất các dự án R&D mới và góp phần hoàn thành các dự án hiện tại với số lƣợng gần bằng nhau. Nghiên cứu của trƣờng đại học tác động đến R&D công nghiệp với các bài báo và báo cáo đƣợc công bố, các hội nghị và cuộc họp công cộng, trao đổi thông tin không chính thức và các mối quan hệ tƣ vấn.
Các kênh truyền thông này quan trọng hơn nhiều so với việc thuê các sinh viên tốt nghiệp gần đây, liên doanh R&D hợp tác với các trƣờng đại học, bằng sáng chế hoặc giấy phép. Các công ty lớn hơn và các công ty đầu tƣ nhiều hơn vào khả năng hấp thụ và các công ty khởi nghiệp có nhiều khả năng sử dụng nghiên cứu công cộng hơn các công ty vừa và nhỏ hiện có (Cohen và cộng sự, 2002). Tổng quan các công trình trong nước. Trần Thị Vân Hoa (2003) đã khẳng định nhà nƣớc ta đã có những chính sách để khuyến khích phát triển DNNVV.
Tuy nhiên theo đánh giá của các doanh nghiệp thì các chính sách này không phát huy tác động đồng đều trên tất cả các ngành và loại hình DN, đồng thời, hệ thống chính sách phát triển DNNVV Việt Nam còn bộc lộ một số hạn chế nhƣ hệ thống pháp luật chƣa hoàn chỉnh, thiếu đồng bộ, thiếu những đạo luật quan trọng; luật và các văn bản dƣới luật còn mang tính quản chế, khống chế, cho phép. hơn là tạo một hành lang rộng để khuyến khích các doanh nghiệp phát huy tài năng kinh doanh; quy trình soạn thảo còn chƣa hợp lý.