MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Việt Nam được thế giới đánh giá là có lợi thế về dân số đông, đang trong thời kỳ “dân số vàng” nên lực lượng trong độ tuổi lao động khá dồi dào. Đây là nguồn lực vô cùng quan trọng để đất nước ta thực hiện thành công Chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2011-2020 đã được Đại hội Đảng XI thông qua ngày 16/2/2011. Bước vào năm 2010, năm bản lề chuẩn bị cho sự chuyển đổi triển khai Chiến lược Dân số và Sức khoẻ sinh sản giai đoạn 2011-2020.
Nâng cao chất lượng dân số Việt Nam là lĩnh vực rộng lớn, đòi hỏi sự phối hợp toàn diện của nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội, do vậy cần lựa chọn những mục tiêu ưu tiên, trước mắt tập trung vào một số nhóm dân cư bị thiệt thòi (yếu thế). Một trong số những nhóm ưu tiên là những người bị Chấn thương cột sống liệt tủy. Ngày 25/3/2010 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 32 về việc phê duyệt Đề án phát triển nghề CTXH giai đoạn 2010 - 2020. Theo đó, Bộ Y tế cũng xây dựng “Đề án phát triển nghề công tác xã hội trong lĩnh vực y tế giai đoạn 2011-2020”.
Đây là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc hình thành và phát triển nghề CTXH trong các lĩnh vực của đời sống xã hội nói chung cũng như trong lĩnh vực Y tế nói riêng. Trong bối cảnh phát triển CTXH ở Việt Nam hiện nay, việc đề xuất mô hình CTXH trong bệnh viện cũng như việc thiết lập vai trò của nhân viên CTXH trong hệ thống bệnh viện là một trong những vấn đề đang được quan tâm nhằm phát triển hệ thống các dịch vụ CTXH trong bệnh viện. Làm được điều này đồng nghĩa với việc giải quyết những vấn đề xã hội trong bệnh viện như sự quá tải bệnh viện và sự căng thẳng trong quan hệ Bác sỹ và bệnh nhân, hỗ trợ chăm sóc giảm nhẹ bệnh tật cho người bệnh, điều phối và cung cấp dịch vụ cũng như tư vấn tâm lý, hỗ trợ phát triển cho bệnh nhân và người nhà TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 2 bệnh nhân trong quá trình điều trị. Những khó khăn trong lĩnh vực CSSK tại các hệ thống bệnh viện ở Việt Nam sẽ đươc cải thiện nếu có sự xuất hiện của NVCTXH chuyên nghiệp.
Với đối tượng cụ thể đề tài hướng đến là người CTCSLT. Hàng năm có khoảng 40 ca Chấn thương cột sống mới trong một triệu dân hoặc tổng số có khoảng 12000 ca CTCS tại Mỹ. Bệnh nhân nam giới chiếm đa số với tỷ lệ khoảng 77%, tuổi trung bình của bệnh nhân trong ba thập kỷ gần đây khoảng từ 28,7 đến 39,5 tuổi với nguyên nhân chính là tai nạn giao thông và ngã cao. Tổn thương đụng dập tủy chiếm 70%.
Tại Mỹ, chi phí cho bệnh nhân CTCS hàng năm lên đến 10 tỷ đô la Mỹ, chưa bao gồm chi phí điều trị loét tỳ đè, một biến chứng hay gặp nhất của CTCS liệt tủy hoàn toàn, có thể thêm hàng tỷ đô la Mỹ mỗi năm [8],[18]. Tại Việt Nam, CTCSLT gặp chủ yếu do tai nạn lao động và tai nạn giao thông với độ tuổi trung bình khoảng 35-40 có thể chiếm đến 80%, đây là lực lượng lao động chính của xã hội [18]. Bệnh nhân CTCSLT, sau khi điều trị theo đúng phác đồ có thể phục hồi, trở về cuộc sống thường ngày, lao động sản xuất ra vật chất cho bản thân, gia đình và xã hội. Tuy nhiên, khi bị liệt tủy hoàn toàn, ngoài vấn đề mất sức lao động sau chấn thương, phụ thuộc vào người chăm sóc, bệnh nhân còn phải được điều trị các biến chứng như loét tỳ đè, nhiễm trùng tiết niệu, viêm tắc tĩnh mạch chi… Đây không chỉ nâng giá thành điều trị lên rất nhiều lần mà còn là một sang chấn tinh thần nặng nề cho bệnh nhân và gia đình, nhiều trường hợp không thể tiếp tục điều trị do bản thân bệnh nhân từ chối [18].
Những khó khăn này cản trở người chấn thương cột sống liệt tủy tiếp cận dịch vụ y tế, giáo dục, học nghề, tìm kiếm việc làm, tham gia giao thông, dẫn đến khó khăn trong cuộc sống và hoà nhập với cộng đồng. Nhìn chung hiện nay những chính sách quan tâm của Đảng và nhà nước đã giảm bớt đi phần nào những TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 3 khó khăn mà người CTCSLT đang gặp phải, tuy nhiên chưa thực sự làm giảm những ảnh hưởng nặng nề trong cuộc sống, đặc biệt là về vấn đề tâm lý của người CTCSLT. Từ những phân tích trên có thể nhận định được vai trò quan trọng của các hoạt động CTXH trong trợ giúp đối tượng yếu thế tại bệnh viện, trong đó có người CTCSLT. Chính vì vậy tác giả muốn đi sâu nghiên cứu đề tài “ Hoạt động Công tác xã hội trong việc hỗ trợ người chấn thương cột sống liệt tủy tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức” với mong muốn từ việc đánh giá các hoạt động CTXH đối với đối tượng người CTCSLT tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức hiện nay để đưa ra các đề xuất hoạt động CTXH chuyên nghiệp hơn với vai trò quan trọng của Nhân viên CTXH, nâng cao vai trò của NVCTXH trong hoạt động CTXH chuyên nghiệp đối với việc trợ giúp các đối tượng yếu thế, trong đó có người CTCSLT.
Kết quả của nghiên cứu sẽ là cơ sở để làm rõ hơn các vấn đề của bệnh nhân cũng như những bằng chứng khoa học để chứng tỏ sự hiệu quả của hoạt động CTXH trong lĩnh vực hỗ trợ điều trị bệnh tại Bệnh viện. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 2. Tổng quan trên thế giới Trên thế giới việc nghiên cứu, tổ chức mô hình CTXH trong bệnh viện đã có từ lâu đời, và các công trình nghiên cứu về hoạt động CTXH trong bệnh viện cũng đã có và nó giúp cho việc thực hành nghề CTXH trong bệnh viện ngày càng phát triển. Bùi Thị Thanh Tuyền, Trần Thị Trân Châu, (2016), “Kỷ yếu hội thảo khoa học: công tác xã hội trong bệnh viện - những vấn đề lý luận và thực tiễn thực hành”.
Nói về lịch sử hình thành và phát triển nghề công tác xã hội trong bệnh viện trên thế giới, tác giả Bùi Thị Thanh Tuyền và Trần Thị Trân Châu đã cho biết công tác xã hội trong bệnh viện lần đầu tiên xuất hiện ở Anh vào TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 cuối thế kỷ 19, năm 1895 và sau đó xuất hiện ở Mỹ vào đầu thế kỷ 20, năm 1905. Lúc đầu nhân viên xã hội trong bệnh viện chỉ có vai trò là "nhân viên phát chẩn", sau đó là phòng dịch vụ xã hội với nhiệm vụ cung cấp các dịch vụ trợ giúp cho người bệnh (vào năm 1905-1913). Dần dần, nhân viên xã hội trong bệnh viện đã được chuyên nghiệp hóa và được gọi là nhân viên xã hội y tế. Nhân viên xã hội y tế có 6 hoạt động chủ yếu: Quản lý trường hợp về mảng y - xã hội, ghi chép dữ liệu, giảng dạy về sức khỏe, theo dõi bệnh nhân, điều chỉnh mức phí và mở rộng dịch vụ y tế bằng cách chuyển người bệnh đến các nhà dưỡng bệnh, cơ quan phúc lợi xã hội hay các cơ sở y tế khác.
Tác giả Bùi Thị Thanh Tuyền cho rằng xem lại lịch sử phát triển nghề công tác xã hội trong bệnh viện cho thấy có sự tương đồng với quá trình hình thành và phát triển nghề công tác xã hội trong bệnh viện ở Việt Nam về cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ của nhân viên xã hội trong bệnh viện [7]. Trương Nguyễn Xuân Quỳnh, Phạm Thị Thu, (2016), “Kỷ yếu hội thảo khoa học: công tác xã hội trong bệnh viện - những vấn đề lý luận và thực tiễn thực hành”. Đề cập đến mô hình công tác xã hội trong bệnh viện tại Mỹ, tác giả Trương Nguyễn Xuân Quỳnh và Phạm Thị Thu cho biết, các bệnh viện ở Mỹ thường có hai mô hình công tác xã hội. Mô hình CTXH theo chiều dọc thì có một phòng CTXH chuyên nghiệp điều phối hoạt động CTXH chung và có đội ngũ nhân viên xã hội có thể thực hiện được nhiều vai trò và có thể luân chuyển vị trí cho nhau.
Mô hình CTXH trong bệnh viện thứ hai là được tổ chức theo chiều ngang, trong đó, ở mỗi khoa chức năng sẽ có một nhân viên y xã hội riêng và thực hiện các công việc chuyên môn đặc thù mà từng chuyên khoa và với những kiến thức sâu hơn về bệnh lý của bệnh nhân. Mỗi một mô hình CTXH như thế này đều có những ưu điểm và nhược điểm, do đó đòi hỏi nhà quản lý bệnh viện cân nhắc khi áp dụng ở Việt Nam [21]. Nghiên cứu tại Mỹ mở ra nhiều hướng mới cho mô hình CTXH trong bệnh viện; Theo tác giả MARKDEST, (2009), Đại học Utah, Salt Lake City, TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 Utah, Hoa Kỳ đã đề cập đến vai trò giám sát của CTXH trong bệnh viện và tác giả cho rằng mô hình CTXH trong bệnh viện cần có thêm hoạt động giám sát để mang lại hiệu suất cao hơn trong các cơ sở y tế [7]. Cũng tại Mỹ, tác giả Jennifer Zimmerman, MSW, MAHolly I.
Dabelko, MSW, PhD lại đưa ra mô hình hợp tác chăm sóc bệnh nhân, tác giả chỉ ra rằng những mô hình y tế truyền thống hoặc mô hình phân cấp tạo ra thứ bậc mà ở đó các bác sỹ được coi trọng hơn không còn giá trị nữa mà thay vào đó là việc kết hợp chăm sóc bệnh nhân giữa nhân viên y tế với gia đình sẽ tạo sự thân thiện hơn cởi mở hơn và xóa bỏ ranh giới phân cấp giữa bác sĩ với bệnh nhân với mục đích tạo tâm lý thoải mái cho người bệnh. Từ nghiên cứu về CTXH trong Bệnh viện tại Mỹ đã triển khai khoa dịch vụ xã hội, đây là nơi triển khai các hoạt động CTXH, khoa có đội ngũ nhân viên CTXH được đào tạo bài bản về CTXH chuyên ngành y tế với trình độ cử nhân, thạc sĩ và hiện có khoảng 500.000 NVCTXH, trong đó 54,4% ở độ tuổi từ 45 trở lên và nữ chiếm 90,2%. Theo Hội CTXH Mỹ, NVCTXH ở Mỹ được trang bị kiến thức tốt để làm việc trong khu vực BV, bởi họ hiểu được những yếu tố về thể chất, tinh thần và yếu tố môi trường quyết định sự khoẻ mạnh của cá nhân và cộng đồng [16]. Với đối tượng cụ thể đề tài hướng đến là người CTCSLT, có nhiều nghiên cứu đánh giá nhằm khẳng định vai trò quan trọng của hoạt động CTXH trong việc hỗ trợ họ, đặc biệt về tâm lý trong suốt quá trình phục hồi tại bệnh viện.