đặt vấn đề về vai trò của các nhà giáo dục, phụ huynh và nhân viên công tác xã hội trong trường học. Khẳng định đây là các nhân tố quan trọng để tạo nên một môi trường hội nhập cho học sinh LGBT, các tác giả Slesaransky-Poe, G. có bài Is this the right elementary school for my gender nonconforming child? Để đi tìm câu trả lời. Bài viết là tập hợp các câu chuyện kể của 4 nhà giáo dục trong trường học.
Bài viết còn ghi nhận và phản ánh về công việc được thực hiện trong 5 năm để biến một trường học thành một trường chào đón và hòa nhập cho các học sinh trong nhóm LGBT. Cũng trong thời gian ấy, cũng đồng quan điểm tạo môi trường hội nhập cho học sinh tác giả Jacob, S với bài viết Creating safe and welcoming schools for LGBT students: Ethical and legal issues’’. Journal of School Violence đã nhận định các vấn đề đạo đức và pháp lý liên quan đến việc tạo ra các trường học an toàn và thân thiện cho thanh thiếu niên LGBT. Các nguyên tắc và tiêu chuẩn đạo đức tạo ra trách nhiệm cho các nhà giáo dục để thúc đẩy một môi trường học tập tôn trọng giá trị và phẩm giá của tất cả các thanh thiếu niên LGBT.
Nhìn chung, vấn đề sức khỏe tâm sinh lý ở độ tuổi dậy thì của học sinh, thanh thiếu niên LGBT là vấn đề đặc biệt quan tâm trong các công trình nghiên cứu. Tiếp đó là vấn nạn kỳ thị, phân biệt đối xử đối với học sinh, thanh thiếu niên LGBT làm cho họ cảm thấy khủng hoảng, áp lực, trầm cảm, thậm chí có suy nghĩ bỏ học, tự tử là điều mà các nhà nghiên cứu lên án và cùng nhau tìm biện pháp giải quyết. Vấn đề chính sách và pháp luật có liên quan đến người LGBT cũng không kém phần quan trọng trong các nội dung nghiên cứu. Tóm lại, trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về người LGBT, về công tác xã hội với người LGBT và về học sinh LGBT.
Tuy nhiên các nghiên cứu này mang tính khái quát chung, thiên về hàn lâm lý thuyết mà chưa đi sâu và cụ thể vào đối tượng học sinh LGB bị kỳ thị, hình thức kỳ thị, hậu quả của kỳ thị trong học 6 đường. Chính vì vậy, trong đề tài này chúng tôi sẽ nghiên cứu cả về lý luận cũng như thực tiển để bổ sung thêm vào một phần của khía cạnh mà học sinh LGBT đang phải đối mặt hàng ngày trong học đường 2. Những nghiên cứu liên quan về học sinh LGBT trong trường học ở Việt Nam 2. Những nghiên cứu về người LGBT Năm 2015, trong Hội thảo Khoa học Quốc tế Công tác xã hội Việt Nam: Thách thức tính chuyên nghiệp trước nhu cầu hội nhập và phát triển (VietNam Social work - The challenges to Professionalism in the context of integration and development) do tổ chức Unicef phối hợp với Bộ Lao động Thương binh và Xã hội và Trường Đại học Công Đoàn tổ chức tại Hà Nội có gần 100 bài tham luận, trong đó chỉ có một bài duy nhất viết về cộng đồng người LGBT đó là bài Công tác xã hội với người đồng tính, song tính và chuyển giới: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam của tác giả Lê Thị Mai Trang.
Bài viết này chủ yếu tập trung phân tích các kinh nghiệm quốc tế về lĩnh vực công tác xã hội với người LGBT tại các quốc gia có nghề công tác xã hội phát triển. Trong đó, tập trung chủ yếu vào kinh nghiệm của Mỹ và Ireland. Dựa trên các kinh nghiệm quốc tế này, tác giả đã đưa ra một số đề xuất và kiến nghị nhằm thúc đẩy sự phát triển của lĩnh vực công tác xã hội với người LGBT ở Việt Nam trong bối cảnh hiện nay. Cụ thể, tác giả đề xuất 4 nội dung như sau: - Một là, nên xây dựng và đưa môn học Công tác xã hội với người đồng tính, song tính và chuyển giới vào chương trình đào tạo bậc đại học ngành Công tác xã hội; - Hai là, với các dịch vụ hỗ trợ người LGBT hiện có thì cần phải chú ý cải thiện chất lượng dịch vụ, đánh giá và nhìn nhận những mặt hạn chế của từng dịch vụ để có sự thay đổi cho phù hợp.
Từ kinh nghiệm quốc tế, nên đưa các nguyên tắc “thực hành không loại trừ”, “tiếp cận khẳng định xu hướng đồng tính”, “cung cấp dịch vụ thân thiện”… vào quá trình thực hành công tác xã hội với người LGBT để nhằm đảm bảo rằng các dịch vụ hỗ trợ mang tính chuyên nghiệp và có hiệu quả trợ giúp cao. - Ba là, số lượng dịch vụ hỗ trợ cho người LGBT còn ít, do đó nên nghiên cứu 7 xây dựng thêm các dịch vụ hỗ trợ mới nhằm đáp ứng như cầu của nhóm thân chủ này. - Bốn là, ngoài việc cung cấp dịch vụ hỗ trợ, mô hình công tác xã hội với người LGBT rất cần phải có cả hoạt động truyền thông nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng về đa dạng tính dục để giảm sự kỳ thị, định kiến với người LGBT. Quan trọng hơn nữa là nhân viên công tác xã hội phải tham gia vào tiến trình vận động chính sách nhằm tạo ra khung pháp lý và hệ thống chính sách có lợi dành cho người LGBT, nhằm mục tiêu tạo ra môi trường sống an toàn, phát triển hơn đối với nhóm này.
Cũng trong năm 2015, tổ chức iSEE (Viện Nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường) có bài nghiên cứu Có phải bởi vì tôi là LGBT?, tham gia nghiên cứu có khoảng 2500 người trong độ tuổi từ 12 đến dưới 34 tuổi. Họ trả lời các nội dung trong bảng hỏi trực tuyến, họ là những người đang sinh sống ở 63 tỉnh thành của Việt Nam. Họ tham gia 10 cuộc phỏng vấn sâu, 2 cuộc phỏng vấn nhóm (tại thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội) về những trải nghiệm phân biệt đối xử, quấy rối và bạo lực bởi vì xu hướng tính dục và bản dạng giới của họ. Trong đó: - Nhóm dưới 18 tuổi chiếm 22%; - Nhóm từ 25-34 tuổi chiếm 10%; Đặc biệt, có 98% trong số đó đang học trung cấp, cao đẳng, đại học.
Kết quả nghiên cứu đã đề cập đến các định kiến, sự kỳ thị và phân biệt đối xử trong trường học. Cùng chủ đề này, năm 2019, tác giả Nguyễn Thị Quốc Minh có bài viết về Thực trạng phân biệt đối xử với trẻ LGBT trong trường học - Một số biện pháp hỗ trợ đăng trên Tạp chí Giáo dục và xã hội, số ra tháng 11/2019. Trong bài viết này tác giả Nguyễn Thị Quốc Minh đã khảo sát học sinh ở 2 trường THCS Chi Lăng và THCS Vân Đồn (Quận 4, TPHCM) để có con số cụ thể về việc học sinh LGBT bị bắt nạt, bị phân biệt đối xử. Từ đó tác giả chỉ ra nguyên nhân của việc học sinh LGBT bị bắt nạt và tác giả có nói rõ trách nhiệm của gia đình, nhà trường và xã hội đối với việc hỗ trợ trẻ LGBT bị phân biệt đối xử, bị bắt nạt.
8 Đây là một trong những tài liệu nghiên cứu cụ thể đối tượng là học sinh LGBT đang học cấp THCS trên địa bàn TPHCM bị bắt nạt. Bài viết nhận được nhiều sự quan tâm và đồng tính của các bậc phụ huynh và học sinh. Cũng trong năm 2019, tác giả Nguyễn Lê Hoài Anh (chủ biên) cùng cộng sự đã xuất bản một tài liệu dưới dạng sách tham luận có nhan đề Công tác xã hội với người đồng tính, song tính, chuyển giới tài liệu này mang tính quan tổng quan các nội dung có liên quan đến công việc cụ thể của người nhân viên công tác xã hội với người LGBT như: - Tổng quan kiến thức cơ bản để tác nghiệp với người LGBT; - Lịch sử các phong trào hoạt động bảo vệ quyền của cộng đồng người LGBT; - Các phong trào vận động và bảo vệ quyền của người LGBT trên thế giới và ở Việt Nam - Thực trạng những vấn đề khó khăn của cộng đồng người LGBT - Các hoạt động công tác xã hội với người LGBT. Những nghiên cứu của CTXH về người LGBT Năm 2008, tác giả Nguyễn Thanh Phương có công trình luận văn thạc sỹ Kỳ thị với MSM ở Hà Nội.
Trong nghiên cứu này, tác giả đã đề cập tới thực trạng vấn đề kỳ thị với nhóm người đồng tính nam ở Hà Nội, những khó khăn mà những người đồng tính gặp phải trong cuộc sống cộng đồng của mình. Năm 2009, Trung tâm ICS có tài liệu Nói về mình - Những gợi ý về quá trình công khai của người đồng tính, đây là một quyển cẩm nang hỗ trợ cho người đồng tính trong quá trình công khai với gia đình, bạn bè và xã hội. Cuốn cẩm nang được chia làm ba phần với từng phần là những gợi ý chung trong quá trình công khai của người đồng tính. Phần đầu của cẩm nang là những chuẩn bị chung cho người đồng tính như: trước hết người đồng tính phải cởi mở với chính mình, khi đưa ra quyết định công khai phải lập kế hoạch đầy đủ, cân nhắc nên có người ủng hộ hay không và có đủ năng lực theo tới cùng hay không vì quá trình công khai của người đồng tính cũng là quá trình có nguy cơ phải đánh đổi rất nhiều.
Kèm theo những câu hỏi gợi ý dành cho 9 người đồng tính là những lưu ý, lời nhắn nhủ về những khó khăn sẽ gặp phải khi công khai. Phần hai quyển sách đi vào chỉ hướng cho người đồng tính cần phải tìm hiểu những bối cảnh, cần hiểu cha mẹ ra sao, tìm nguồn hỗ trợ như thế nào, chuẩn bị sẵn tâm lý ứng phó với những biến động. và những chuẩn bị, những điều nên làm trước khi công khai với bạn bè, đồng nghiệp nơi công sở, trường học… Phần cuối của quyển sách là chương trích dẫn về một vài trường hợp người đi trước với kinh nghiệm đã từng công khai. Có thể thấy, quyển cẩm nang dành cho nguời đồng tính đã phần nào chỉ ra những khó khăn chung của một người đồng tính khi công khai bản thân.
Cho chúng ta thêm một hướng nhìn nhận về cuộc sống tâm lý của họ. Tuy nhiên, đây không phải là nghiên cứu mà chỉ dừng lại ở mục đích hỗ trợ cho quá trình công khai của những người đồng tính bằng tập hợp ghi chép của tác giả.