CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC KỸ NĂNG TỰ PHỤC VỤ CHO TRẺ RỐI LOẠN PHỔ TỰ KỶ 3-4 TUỔI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG SINH HOẠT HẰNG NGÀY TẠI GIA ĐÌNH 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu về giáo dục kĩ năng tự phục vụ cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ 1. Tổng quan nghiên cứu về kĩ năng tự phục vụ cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ Nghiên cứu về kĩ năng (KN) tự phục vụ và giáo dục KN tự phục vụ cũng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm vì đây cũng là một trong những khó khăn ở TTK.
KN tự phục vụ bao gồm việc như chuẩn bị bữa ăn đơn giản, công việc gia đình và mặc quần áo. Để giáo dục KN này, các nhà nghiên cứu đã sử dụng các biện pháp như áp dụng phương pháp phân tích hành vi ứng dụng ABA. Điển hình là: Janzen (2003), Marilyn H.Jay Gense (2005) trong sách “Autism Spectrum Disoder and Visual Impairment – ASDVI” đã nhấn mạnh đến các phương pháp quan trọng khi hướng dẫn kỹ năng tự phục vụ cho trẻ khiếm thính kèm RLPTK “ Intruction Efectiveness: KEY Concepts”: Người hướng dẫn sử dụng mức độ trợ giúp khác nhau để trẻ hoàn thành nhiệm vụ theo mục tiêu phát triển tối đa sự độc lập, sử dụng sự động viên, khuyến khích có ý nghĩa đối với trẻ trong quá trình trẻ thực hiện nhiệm vụ. Hình thành kỹ năng mới dựa rên sự trải nghiệm, đưa ra các ví dụ cụ thể, hoạt động sử dụng tay và thông qua những hoạt động thói quen hằng ngày.
Mỗi hoạt động cần được chia thành các bước nhỏ khi hướng dẫn cho trẻ. Giáo dục và hỗ trợ trẻ RLPTK không chỉ là trách nhiệm của ngành giáo dục mà còn là sự chung tay của các ngành y tế, tâm lý,.Ở Việt Nam hiện nay đã có một số tài liệu tham khảo, sách hướng dẫn, các công trình nghiên cứu về trẻ RLPTK. Tuy nhiên hoạt động hướng dẫn cha mẹ dạy kỹ năng tự phục vụ cho trẻ RLPTK cũng như các tài liệu tham khảo dành cho cha mẹ trẻ về lĩnh vực này còn nhiều hạn chế. Năm 2007, Nguyễn Thị Diệu Anh cùng các cộng sự đã thực hiện nghiên cứu “Ứng dụng việc chăm sóc tại nhà cho trẻ có rối loạn tự kỷ”.
Công trình nghiên 5 cứu đã bước đầu thực hiện trên 10 trẻ đang điều trị tại Bệnh viện nhi đồng I có chẩn đoán tự kỷ với độ tuổi từ 18 tháng đến 10 tuổi. Đây là sự phối hợp làm việc giữa bác sỹ, chuyên viên tâm lý, chuyên viên âm ngữ và tâm vận động cùng với việc áp dụng phương pháp TEACCH. Sau một năm thực hiện, các trẻ tham gia chương trình đều có những tiến bộ nhất định. Thông qua nghiên cứu “ Phương pháp phát triển KNTPV cho trẻ khiếm thị kèm RLPTK” của các tác giả Trần Thị Hòa, Nguyễn Thị Thắm (2019) đã đưa ra một số phương pháp phát triển kỹ năng tự phục vụ cho trẻ khiếm thính kèm RLPTK.
Tổng quan nghiên cứu biện pháp hỗ trợ trẻ rối loạn phổ tự kỷ. Sử dụng các phần thưởng thích hợp để thu hút sự chú ý của trẻ vào hoạt động Cuốn sách “ Can thiệp phổ tự kỷ hằng ngày” của các tác giả Merle J. Crawford – Barbara Weber được viết nhằm mục đích cung cấp cho nhà trị liệu can thiệp sớm những chiến lược và phương tiện học có thể dùng để huấn luyện phụ huynh và người chăm sóc nhằm khuyến khích sự phát triển những kỹ năng quan trọng và quản lí những hành vi khó[13]. Cuốn sách này thực sự hữu ích dành cho các nhà trị liệu, nhà giáo dục, gia đình và người chăm sóc trẻ RLPTK.
Trong quá trình nghiên cứu để giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ RLPTK, các nhà nghiên cứu đã sử dụng nhiều phương pháp khác nhau như sử dụng video làm mẫu, áp dụng dạy học theo “cấu trúc” của phương pháp TEACCH. Có thể kể đến như các nghiên cứu của Shipley- Benamou, Lutzker and Taubman (2002) sử dụng video làm mẫu hay Pierce và Schreibman (1994) đã dạy thành công các kỹ năng trong cuộc sống hằng ngày cho trẻ RLPTK thông qua sử dụng lịch trình hoạt động[ 22]. Tại Việt Nam nghiên cứu về các biện pháp hỗ trợ cha mẹ giáo dục kĩ năng tự phục vụ cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ điển hình: Trong cuốn sách “ Nuôi dạy trẻ có rối loạn phổ tự kỷ” (2019) của tác giả Nguyễn Thanh Liêm và các cộng sự đã đề cập đến các vấn đề chung về tự kỷ và một số hướng dẫn trong việc nuôi dạy trẻ tự kỷ. Cuốn sách cũng cung cấp và hướng dẫn việc dạy một số kỹ năng tự phục 6 vụ: ăn uống, vệ sinh tay, rửa mặt, chải tóc, đánh răng, mặc quần áo, tắm và các kỹ năng đi vệ sinh.
Bên cạnh đó, nội dung hướng dẫn còn đề cập đến các kỹ năng cần có trước khi thực hiện kỹ năng, các bước thực hiện, các khó khăn khi thực hiện nhiệm vụ. Ngoài ra còn có thể liệt kê một số nghiên cứu như: “Xây dựng kế hoạch hỗ trợ giáo viên và cha mẹ có con Tự kỉ trong chương trình can thiệp sớm tại Hà Nội” (Luận văn Thạc sỹ của tác giả Đỗ Thị Thảo - 2004), “Rèn luyện khả năng tự phục vụ cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ 3-4 tuổi” (Nguyễn Thị Loan- 2017),. Như vậy, có thể thấy rằng các nghiên cứu về tự kỉ cũng như hỗ trợ cha mẹ trẻ ở Việt Nam còn lẻ tẻ, thiếu tính tập trung, chưa mang tính hệ thống, chưa đáp ứng được nhu cầu thực tiễn ở nước ta hiện nay. Trẻ rối loạn phổ tự kỷ 1.
Khái niệm trẻ rối loạn phổ tự kỷ Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả sử dụng khái niệm theo sổ tay chẩn đoán và thống kê các rối nhiễu tâm thần( DSM-V) được phát hành vào tháng 5/ 2023: “ Rối loạn phổ tự kỷ được đặc trưng bởi những thiếu hụt kéo dài trong giao tiếp xã hội và tương tác trong nhiều bối cảnh, cũng như các kiểu hành vi, sở thích hoặc hoạt động bị hạn chế, lặp đi lặp lại. Những thiếu hụt này xuất hiện ở thời thơ ấu, điển hình là trước 3 tuổi và dẫn đến suy giảm chức năng đáng kể về mặt lâm sàng. Các triệu chứng bao gồm thiếu sự tăng tương tác xã hội hoặc cảm xúc, sử dụng một cách bất thường[. Có nhiều khái niệm khác nhau về Tự Kỷ, song nhìn chung đều thống nhất ở quan điểm: “ Tự Kỷ là một dạng khuyết tật phát triển phức tạp, được đặc trưng bởi ba khiếm khuyết: Về giao tiếp, tương tác xã hội, có hành vi, sở thích, hoạt động mang tính hạn hẹp, lặp đi lặp lại.
Vậy nên chúng tôi sử dụng khái niệm 1. Đặc điểm trẻ rối loạn phổ tự kỷ 1. Đặc điểm về ngôn ngữ và giao tiếp Đặc điểm nổi bật của trẻ RLPTK là sự khó khăn về giao tiếp và ngôn ngữ. 7 Về ngôn ngữ tiếp nhận: Phần lớn trẻ RLPTK có thể hiểu những hướng dẫn đơn giản, hiểu được tên gọi của những vật đơn giản, gần gũi nhưng lại gặp khó khăn trong việc hiểu tên gọi của những vật có nhiều hơn 1 tên gọi.
Quá trình xử lí thông tin thường chậm chạp, thường có một khoảng thời gian bị trì hoãn giữa lúc thông tin được đưa ra và lúc trẻ phản ứng lại. Trẻ thường gặp khó khăn khi ai đó nói quá nhanh, quá chậm hoặc dùng quá nhiều từ nhất là dùng những từ lạ, phức tạp. Vốn từ của trẻ thường nghèo nàn, cấu trúc ngữ pháp thường bị sai là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc gặp khó khăn khi hiểu những câu nói phức tạp, chứa đựng nhiều thông tin. Trẻ thường hiểu hơn nếu những gì được nói có kèm theo hình ảnh minh hoạ hoặc trẻ có thể liên tưởng tới một hình ảnh quen thuộc nào đó.
Về ngôn ngữ diễn đạt: Thông thường cứ 4-5 trẻ tự kỷ sẽ có một trẻ không bao giờ nói, trẻ chỉ có thể phát âm ra những âm thanh vô nghĩa. Những trẻ còn lại có thể phát triển ngôn ngữ nhưng thường chậm hơn bình thường. Trẻ thường bắt đầu bằng việc lặp lại những từ người khác nói, đặc biệt là một hoặc vài từ cuối của câu. Một số trẻ có thể duy trì kiểu ngôn ngữ kì quặc này khi đã lớn lên và tiếp tục nó trong cuộc sống của một người trưởng thành.
Số khác có thể phát triển ngôn ngữ hơn nữa thậm chí có thể phát triển tốt ngữ pháp và có một vốn từ vựng khá rộng. Về giao tiếp: Khó khăn về giao tiếp là một trong những khiếm khuyết điển hình nhất thường gặp phải ở những trẻ em và cả những người lớn tự kỷ, bao gồm cả những người có ngôn ngữ và những người không có ngôn ngữ. Trẻ tự kỷ thường ít có và không duy trì được động cơ giao tiếp cũng như không có nhu cầu giao tiếp với người khác một cách thường xuyên. Khi chúng muốn giao tiếp chúng lại gặp hàng loạt những vấn đề về kĩ năng giao tiếp.
Trẻ thường gặp khó khăn trong việc hiểu và sử dụng công cụ giao tiếp, cả công cụ giao tiếp có lời và công cụ giao tiếp không lời (cử chỉ, nét mặt, ngôn ngữ cơ thể. Tương tác xã hội Nhóm tách biệt: Trẻ không đến gần khi được gọi, không phản ứng khi ai đó nói với chúng, khuôn mặt của chúng có thể không bộc lộ điều gì trừ khi đang trải qua những cảm xúc hết sức rõ ràng như giận dữ, căng thẳng hoặc thích thú. Trẻ không quan tâm đến việc chia sẻ niềm vui, hứng thú hay thành quả của mình với người khác và cũng không nhận thức được sự đau khổ của người khác. Nhóm thụ động: Trẻ tự kỷ thuộc nhóm này thường không chủ động trong giao tiếp và tương tác xã hội.
Trẻ hạn chế giao tiếp bằng mắt và ít có phản ứng khi được gọi tên. Thông thường trẻ tự kỷ thụ động thường ít có những vấn đề về hành vi, thường được xem là hiền lành. Nhóm chủ động nhưng kì quặc: Trẻ thuộc dạng này có thể có những hoạt động tương tác với người khác nhưng thường không phù hợp vì trẻ thường không để ý đến đến cảm giác và nhu cầu của người mà chúng tương tác. Một số lười giao tiếp mắt – mắt nhưng khi đã nhìn ai đó thì nhìn chằm chằm và quá lâu, điều này có thể làm những người cùng giao tiếp trở nên khó chịu.
Nhóm nghi thức, cứng nhắc: Những hành vi nghi thức và cứng nhắc thường không xuất hiện cho đến tuổi thanh niên và trưởng thành. Biểu hiện này thường xuất hiện ở những người phát triển ngôn ngữ tốt. Họ thường có những hành vi lịch sự và nghi thức một cách thái quá.