LỜI MỞ ĐẦU Nghèo đói là vấn đề luôn tồn tại trong bất kỳ một xã hội nào, từ những nước nghèo có nền kinh tế lạc hậu cho đến những nước có nền kinh tế phát triển bậc nhất trên thế giới. Ở Việt Nam từ khi đổi mới và tiến hành cải cách kinh tế vào năm 1986, Việt Nam đã đạt được những thành tựu phát triển về kinh tế xã hội ấn tượng. Sau gần 40 năm đổi mới, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam được đánh giá là nhanh với tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt mức cao. Tăng trưởng kinh tế ổn định đã thực sự trở thành một yếu tố quan trọng để đạt được một số mục tiêu xã hội như nâng cao mức sống của người dân, giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo… Tuy nhiên, tỷ lệ nghèo của Việt Nam hiện nay vẫn còn ở mức cao.
Thêm vào đó, khoảng cách chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng, miền, giữa các nhóm dân cư ngày càng tăng. Khoảng cách này đang giãn ra ngày càng rộng và không chỉ giữa đô thị và nông thôn, mà ngay trong các vùng quê, chênh lệch giàu nghèo cũng ngày càng lớn. Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng của nền kinh tế Việt Nam một mặt đã đem lại nhiều cơ hội thay đổi chất lượng cuộc sống cho người nghèo, song bên cạnh đó cũng đã gây ra những ảnh hưởng không nhỏ đến người nghèo như tình trạng bị mất việc làm của một số lao động có trình độ thấp tại các vùng miền. Và tăng trưởng kinh tế đi đôi với công bằng trong phân phối thu nhập nhằm đạt được các mục tiêu xã hội đã và đang là vấn đề đặt ra đối với nền kinh tế của Việt Nam hiện nay.
Để đánh giá mức sống phục vụ hoạch định chính sách và lập kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, tổng cục thống kê (TCTK) đã tiến hành nhiều cuộc điều tra mức sống dân cư. Bắt đầu triển khai từ năm 1993, TCTK tiến hành kháo sát mức sống dân cư Việt Nam (VHLSS) 2 năm một lần nhằm theo dõi và giám sát một cách có hệ thống mức sống các tầng lớp dân cư Việt Nam. VHLSS rất hữu ích cho các nhà hoạch định chính sách và các bên liên quan khác vì nó cung cấp thông tin kịp thời và đáng tin cậy về xu hướng nghèo đói và giúp xác định các lĩnh vực ưu tiên cho các can thiệp chính sách nhằm cải thiện cuộc sống của người dân. Trong những năm qua, nó đã đóng vai trò là một trong những công cụ chính được sử dụng để theo dõi tiến độ thực hiện các chiến lược giảm nghèo ở Việt Nam.
Giám sát nghèo đói là một phần thiết yếu của cuộc đấu tranh nhằm chấm dứt nghèo đói. Bài nghiên cứu xây dựng hồ sơ nghèo đói năm 2018 dựa trên số liệu của cuộc khảo sát mức sống dân cư năm 2018. Hồ sơ nghèo đói đưa ra các thực tế chính về nghèo đói (và điển hình là bất bình đẳng), sau đó xem xét mô hình nghèo đói thay đổi như thế nào theo địa lý (theo vùng, thành thị/nông thôn, miền núi/đồng bằng, v.), theo đặc điểm cộng đồng (ví dụ ở các cộng đồng có và không có trường học, v.) và theo đặc điểm của hộ gia đình (theo trình độ học vấn của chủ hộ, theo quy mô hộ gia đình). Do đó, "hồ sơ nghèo" chỉ đơn giản là một so sánh nghèo toàn diện, cho thấy mức độ nghèo khác nhau giữa các nhóm nhỏ trong xã hội, chẳng hạn như khu vực cư trú hoặc khu vực việc làm (Ngân hàng Thế giới, 2014).
Trong bài nghiên cứu, nhóm tập trung phân tích nhóm nghèo thu nhập (nhóm 1 – nhóm 20% người có thu nhập thấp nhất). 1 HỒ SƠ NGHÈO ĐÓI VIỆT NAM 2018 1. TỔNG QUAN KINH TẾ - XÃ HỘI VIỆT NAM 2018 1. Tình hình kinh tế Kinh tế Việt Nam năm 2018 khởi sắc trên cả ba khu vực sản xuất, cung - cầu của nền kinh tế cùng phát triển.
Khi đánh giá về nền kinh tế Việt Nam trong năm 2018, “ấn tượng” là cụm từ được ông Ousmane Dione, Giám đốc Ngân hàng Thế giới (WB) nhấn mạnh khi nhắc tới mốc tăng trưởng 7.08% năm 2018 của Việt Nam trước bối cảnh tình hình kinh tế quốc tế không mấy thuận lợi. Trong nước, nợ công, đầu tư trung hạn gia tăng làm hạn chế việc thực hiện nhiều dự án lớn và giải ngân các dự án đầu tư công chậm chạp. Tăng trưởng GDP và lạm phát 18.54 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018 Tăng trưởng GDP Lạm phát Nguồn: Theo số liệu của Tổng cục Thống kê Việt Nam GDP Việt Nam năm 2018 được tổng kết tăng 7.08% - mức cao nhất từ năm 2008 trong khi chỉ số lạm phát được kiềm ở dưới 4%. Trong mức tăng chung của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3.7% vào mức tăng trưởng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8.6%; khu vực dịch vụ tăng 7.
Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt mức tăng trưởng cao nhất trong giai đoạn 2012- 2018, khẳng định xu thế chuyển đổi cơ cấu ngành đã phát huy hiệu quả, mặt khác giá bán sản phẩm ổn định cùng với thị trường xuất khẩu được mở rộng là động lực chính thúc đẩy sản xuất của khu vực này. Cơ cấu kinh tế của Việt Nam tiếp tục chuyển dịch tích cực theo xu hướng giảm tỷ trọng nông, lâm nghiệp và thủy sản; tăng tỷ trọng ngành công nghiệp, xây dựng và ngành dịch vụ. Kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng, nhiều hiệp định thương mại quan trọng đã được ký kết thời gian qua và chuẩn bị có hiệu lực. Với 16 hiệp định FTA đã và đang được đàm phán ký kết, 10 hiệp định FTA đã có hiệu lực, thị trường tiêu thụ của Việt Nam đang ngày càng mở rộng, tạo cơ hội gia tăng nhu cầu đối với hàng Việt Nam.
2 HỒ SƠ NGHÈO ĐÓI VIỆT NAM 2018 1. Tình hình xã hội Đời sống dân cư năm 2018 nhìn chung được cải thiện. Chỉ số phát triển con người (HDI) đạt mức khá với 0. Công tác an sinh xã hội tiếp tục được quan tâm thực hiện.
Theo báo cáo sơ bộ, tổng kinh phí dành cho hoạt động an sinh xã hội và giảm nghèo trong năm 2018 là 4977 tỷ đồng, bao gồm 2792 tỷ đồng quà thăm hỏi và hỗ trợ các đối tượng chính sách; 1487 tỷ đồng hỗ trợ các hộ nghèo và 698 tỷ đồng cứu đói, cứu trợ xã hội khác. Bên cạnh đó, đã có gần 23.6 triệu thẻ bảo hiểm y tế, sổ/thẻ khám chữa bệnh miễn phí được phát tặng cho các đối tượng chính sách trên địa bàn cả nước. Năm 2018, thu nhập bình quân một người một tháng ước tính đạt 3.88 triệu đồng (tăng 778 nghìn đồng so với năm 2016), tăng 25.1% so với năm 2016 (bình quân giai đoạn 2016-2018 tăng 11.9%/năm), trong đó khu vực thành thị đạt 5.62 triệu đồng, tăng 23,5%; khu vực nông thôn đạt 2.99 triệu đồng, tăng 23. Thu nhập bình quân 1 người 1 tháng năm 2018 theo giá hiện hành của các vùng trên cả nước đều tăng so với năm 2016, trong đó vùng Đồng bằng sông Cửu Long là vùng có tốc độ tăng thu nhập cao nhất với 29.1% và thấp nhất là vùng Tây Nguyên tăng 22.
Tuy nhiên, thu nhập giữa các vùng có sự chênh lệch, vùng Đông Nam Bộ có thu nhập bình quân đầu người cao nhất (đạt 5.71 triệu đồng), gấp 2.3 lần so với vùng có thu nhập bình quân đầu người thấp nhất là Trung du và miền núi phía Bắc (2. Thu nhập bình quân 1 người 1 tháng của nhóm 20% số hộ có thu nhập bình quân đầu người cao nhất đạt 9.32 triệu đồng, tăng 23.5% so với năm 2016 và gấp 10 lần nhóm 20% số hộ có thu nhập bình quân đầu người thấp nhất đạt 932 nghìn đồng, tăng 20. Chênh lệch thu nhập và phân hoá giàu nghèo trong dân cư còn được thể hiện qua Hệ số bất bình đẳng trong phân phối thu nhập (hệ số GINI). Hệ số GINI về thu nhập tính chung cả nước năm 2018 là 0.424; trong đó khu vực nông thôn là 0.407 có sự chênh lệch nhiều hơn so với 0.372 của khu vực thành thị.
Chênh lệch thu nhập và phân hoá giàu nghèo trong dân cư năm 2018 đã có sự cải thiện, giảm từ 0.424, trong đó khoảng cách này được thu hẹp nhiều hơn ở khu vực thành thị từ 0.372; trong khi nông thôn thay đổi rất ít từ 0. Kinh tế - xã hội Việt Nam năm 2018 đều đạt được những thành tựu nhất định. Tăng trưởng kinh tế cao là yếu tố cơ bản để giảm nghèo và phát triển. Giảm nghèo là nhân tố bảo đảm cho tăng trưởng kinh tế bền vững.
Thực tế cho thấy, trong nền kinh tế thị trường nếu chỉ quan tâm tăng trưởng kinh tế nhanh, mạnh sẽ tạo ra sự chênh lệch về trình độ phát triển và thu nhập giữa các vùng, các nhóm dân cư, từ đó dẫn đến tình trạng bất bình đẳng, khoảng cách giàu nghèo tăng lên và khi đến giới hạn nào đó thì đây sẽ là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự mất ổn định xã hội. Việc phân tích tình trạng nghèo đói trong nền kinh tế đang phát triển có thể đánh giá xem phát triển kinh tế và xóa đói giảm nghèo có bền vững không, từ đó có thể đưa ra những chiến lược phát triển kinh tế xã hội cho những năm sau. 3 HỒ SƠ NGHÈO ĐÓI VIỆT NAM 2018 2. HỒ SƠ NGHÈO ĐÓI VIỆT NAM 2018 Tiêu chí và chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo giai đoạn 2016-2020 thực hiện theo quy định tại Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg, cụ thể như sau: Các tiêu chí tiếp cận đo lường nghèo đa chiều a) Tiêu chí về thu nhập: - Chuẩn nghèo: 700.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và 900.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị.
- Chuẩn cận nghèo: 1.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và 1.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị. b) Tiêu chí mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản: - Các dịch vụ xã hội cơ bản (05 dịch vụ): y tế; giáo dục; nhà ở; nước sạch và vệ sinh; thông tin. - Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản (10 chỉ số) bao gồm: tiếp cận các dịch vụ y tế; bảo hiểm y tế; trình độ giáo dục của người lớn; tình trạng đi học của trẻ em; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu người; nguồn nước sinh hoạt; hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; tài sản phục vụ tiếp cận thông tin.