CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC HÌNH THÀNH NĂNG LỰC TỰ HỌC VẬT LÍ CHO HỌC SINH VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA MÁY VI TÍNH 1. Khái niệm về tự học Khái niệm tự học đã được nhiều học giả và những nhà nghiên cứu giáo dục định nghĩa dưới nhiều góc độ khác nhau. Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời đã rất quan tâm đến vấn đề tự học - tự đào tạo. Người đã chỉ ra rằng: “Tự học chính là sự nỗ lực của bản thân người học, sự làm việc của bản thân người học một cách có kế hoạch trên tinh thần tự động học tập, lại còn cần phải có môi trường (tập thể để thảo luận) và sự quản lý chỉ đạo giúp vào” [2].
Theo Nguyễn Cảnh Toàn, “Tự học là tự mình động não, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp…) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ), cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó ngại khổ, kiên trì nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý muốn thi đỗ, biết biến khó khăn thành thuận lợi) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình” [24]. Tác giả Võ Quang Phúc cho rằng: “Tự học là một bộ phận của học, nó được tạo thành bởi những thao tác, cử chỉ, ngôn ngữ, hành động của người học trong hệ thống tương tác của hoạt động dạy học. Tự học phản ánh rõ nhu cầu bức xúc về học tập của người học, phản ánh tính tự giác và nỗ lực của người học, phản ánh năng lực tổ chức và tự điều khiển của người học nhằm đạt được kết quả nhất định trong hoàn cảnh nhất định với nội dung học tập nhất định” [14]. Tác giả Nguyễn Kỳ viết: “Tự học nghĩa là người học tích cực chủ động tự mình tìm ra bằng hành động của mình, tự thể hiện mình và hợp tác với các bạn, học bạn, học thầy và học mọi người.
Tự học là tự đặt mình vào tình huống học, vào vị trí của người tự nghiên cứu, xử lý các tình huống, giải quyết các vấn đề đặt ra cho 14 mình để nhận biết vấn đề, thu thập xử lý thông tin cũ, xây dựng các giải pháp giải quyết vấn đề, thử nghiệm các giải pháp…” [11]. Theo tác giả Vũ Văn Tảo, thì “Học cốt lõi là tự học, là quá trình phát triển nội tại, trong đó chủ thể tự thể hiện và biến đổi mình, tự làm phong phú giá trị con người bằng cách thu nhận, xử lý và điều chỉnh thông tin từ môi trường sống của chủ thể” [19]. Với những cách diễn đạt khác nhau, nhưng các định nghĩa trên đều thống nhất: Tự học là quá trình tự giác, tích cực, độc lập chiếm lĩnh tri thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo của chính bản thân người học. Trong quá trình đó, người học thực sự là chủ thể của quá trình nhận thức, nỗ lực huy động các chức năng tâm lý, tiến hành hoạt động nhận thức nhằm đạt được mục tiêu đã định.
Tự học là “nội lực” quyết định chất lượng học tập, sáng tạo cho hôm nay và mai sau. Như vậy, những đặc trưng cơ bản của tự học là: người học tự mình tổ chức xây dựng, kiểm tra tiến trình học tập với ý thức trách nhiệm; tự quyết định trong việc lựa chọn mục tiêu, nội dung, phương pháp học tập. Chú ý đến cách học, bởi vì kiến thức, kỹ năng có thể thay đổi theo tiến bộ khoa học kỹ thuật. Giữa học và tự học có mối quan hệ với nhau, học chỉ có hiệu quả khi có sự tự học, tự học là kết quả cuối cùng của học.
Như vậy, cốt lõi của học là tự học. Hễ có học là có tự học và không ai có thể học hộ người khác được. Khi nói học là hàm ý xét đến mối quan hệ với ngoại lực, tức là dạy. Còn khi nói là tự học, là chỉ riêng nội lực ở người học.
Hai người cùng học một thầy nhưng kết quả tuỳ theo chất lượng tự học ở từng người. Ngoại lực tác động đến nội lực như thế nào thì đó chính là thước đo chất lượng dạy học. Nếu ngoại lực tác dụng tốt (thầy gợi mở, khuyến khích sáng tạo) sẽ có tác dụng kích thích nội lực, nếu tác dụng không tốt (thầy áp đặt) có thể kìm hãm nội lực. Tác dụng của ngoại lực vào nội lực sẽ tốt nhất khi có sự cộng hưởng giữa nội lực và ngoại lực, tức là có sự vừa sức.
Hoạt động tự học của HS diễn ra theo phương thức của nhà trường, theo những quy luật, nguyên tắc của lý luận dạy học. Hoạt động tự học của HS gắn liền chặt chẽ với hoạt động dạy học ở trên lớp. Tự học diễn ra ở mọi lúc mọi nơi có thể trên lớp hoặc ở nhà, có thể có sự chỉ đạo trực tiếp của GV hoặc không có sự hướng dẫn của GV. Ngày nay, do nhu cầu phát triển của xã hội nên mục tiêu cũng như phương pháp, nội dung dạy học đều thay đổi dẫn đến quan niệm dạy học cũng thay đổi.
Mối quan hệ thầy - trò và vị trí thầy - trò trong hoạt động dạy học cũng có nhiều thay đổi. 15 QTDH không còn là quá trình cung cấp tri thức một cách đơn thuần như trước đây mà là quá trình tổ chức điều khiển HS tự hoạt động để lĩnh hội tri thức về nội dung kiến thức, kĩ năng, cách thức và cách học. Vì thế mà người ta vẫn thường nói thầy dạy học là “thầy học”, tức là thầy của việc học, dạy cho HS cách học thông qua các hoạt động của chủ thể nhận thức. Dạy học có nghĩa là dạy cho HS cách học hay gọi là dạy-tự học [12].
Các cách tự học Hoạt động tự học được coi là hoạt động có tổ chức của người học, diễn ra dưới nhiều cách khác nhau [25]: - Tự học giáp mặt: Những hoạt động học như nghe giảng, ghi chép bài, thảo luận nhóm, làm việc với sách, làm TN, quan sát…của HS, được HS thực hiện một cách chủ động, tích cực thì đều được gọi là hoạt động tự học, hoạt động này diễn ra ngay trong QTDH với sự điều khiển trực tiếp của GV đứng lớp nên gọi là tự học giáp mặt. - Tự học không giáp mặt: Đó là sự tự học không có sự điều khiển trực tiếp của GV mà do HS tự mình độc lập tiến hành với sự hỗ trợ của các phương tiện học tập để tự mình chiếm lĩnh tri thức và tự mình đạt được các mục đích, nhiệm vụ học tập. Tự học loại này có thể tồn tại ở ba mức: + Tự học mức cao: Người học tự học qua sách, qua các phương tiện thông tin. Người học tự học tập một cách độc lập hoàn toàn.
+ Tự học với sự hướng dẫn (hay điều khiển từ xa): Người học có sách giáo khoa, có các tài liệu hướng dẫn học tập hay có sự hướng dẫn thông qua các phương tiện thông tin như băng ghi hình, ghi tiếng, ti-vi, mạng, các phần mềm dạy học … Sự hướng dẫn tự học chủ yếu là sự hướng dẫn tư duy trong việc chiếm lĩnh tri thức, hướng dẫn phương pháp học tập, hướng dẫn tra cứu, hướng dẫn TN. Dưới sự hướng dẫn từ xa ấy, người học tự mình tiến hành các hành động học tập để hoàn thành các nhiệm vụ học tập. Hiện nay hình thức tự học này rất được khuyến khích nhưng chất lượng của nó là vấn đề cần quan tâm. - Tự học có sự hướng dẫn trên lớp của thầy: HS nhận nhiệm vụ và tự học ở nhà để tự mình hoàn thành các nhiệm vụ học tập.
Có thể gọi hình thức này là tự học có hướng dẫn hay tự học sau giờ lên lớp. Như vậy, hình thức và đối tượng tự học là hết sức đa dạng và phong phú. Nhìn chung thì mỗi người đều tự tìm tòi, đúc rút kinh nghiệm để xác định cho mình 16 một phương pháp tự học riêng. Tuy nhiên, đối với nhiều người, đó là việc làm không dễ.
Do đó, tự học là một trong những phẩm chất quan trọng nhất mà GV cần trang bị cho HS, vì nó không những giúp các em học tập tốt khi còn ngồi trên ghế nhà trường mà còn cần thiết cho sự phát triển lâu dài và thành đạt của mỗi HS sau này [31]. Vai trò của tự học Trong thời đại khoa học công nghệ phát triển như vũ bão và cùng với nó là sự bùng nổ thông tin, thì đối với người học nói chung và đối với HS nói riêng thì tự học có vai trò rất quan trọng, tự học là chìa khoá tiến vào thế kỉ XXI, một thế kỉ với quan niệm học suốt đời, xã hội học tập [26]. Tự học là phương châm cơ bản, là mục tiêu chiến lược của giáo dục Việt Nam nói riêng và của thế giới nói chung [25]: - Tự học đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng kiến thức và hiệu quả học tập. Khi tự học, người học phải vận dụng các năng lực trí tuệ tới mức tối đa để tự mình giải quyết vấn đề.
Điều này đòi hỏi người học tự tìm tòi, đào sâu suy nghĩ, động não…từ đó tạo điều kiện cho việc thấu hiểu kiến thức sâu sắc hơn. Lê-nin đã viết: “Không có sự lao động tự lực thì không thể tìm thấy chân lí trong bất kì vấn đề hệ trọng nào và ai sợ tốn công sức thì không sao tìm ra sự thật được”. - Tự học là nội lực của người học, đóng vai trò cốt lõi của hoạt động học Như đã nói, kết quả của tự học bao giờ cũng là sự chiếm lĩnh kiến thức, biến kiến thức chung của nhân loại thành kiến thức riêng của mình. Người biết tự học là người có khả năng thu thập và xử lí thông tin, biết vận dụng thông tin và biết tự kiểm tra, đánh giá hoạt động học tập của mình.
Vì thế, người biết tự học là người có khả năng tự giải quyết vấn đề tốt, có khả năng tự làm giàu kiến thức cho mình. - Tự học góp phần rèn luyện kĩ năng, cách học Khi tự học, các thao tác tư duy và thao tác chân tay được lặp đi lặp lại nhiều lần góp phần hình thành kĩ năng, phương pháp học cho người học. Tự học là cốt lõi của cách học. Bác Hồ đã từng nói: “Về cách học phải lấy tự học làm cốt”.