chương 1, chúng tôi tập trung vào những vấn đề lí luận và thực tiễn để tìm ra cơ sở trong suốt quá trình nghiên cứu luận văn. Những lí thuyết 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com về giới sẽ là phương pháp luận mà chúng tôi sử dụng. Từ đó, chúng tôi có cơ sở để nghiên cứu hình ảnh nam nhi được thể hiện trong nền văn học trung đại nói riêng và trong xã hội phong kiến tập quyền nói chung. Chúng tôi cũng trình bày về cuộc đời cũng như thời đại mà Nguyễn Công Trứ sống đã ảnh hưởng rất lớn đến những sáng tác về chí nam nhi của ông.
Chương 2: Hình ảnh nam nhi trong sáng tác của Nguyễn Công Trứ. Trong chương 2, chúng tôi nghiên cứu quan niệm về chí nam nhi của Nguyễn Công Trứ. Người nam nhi luôn mang trong mình khát vọng công danh cao đẹp, bổn phận quân thân, vì dân giúp nước. Người nam nhi không chỉ có bản lĩnh cao cường, vượt lên trên mọi khó khăn, gian khổ để thực hiện lí tưởng “trí quân trạch dân” mà người nam nhi còn có tinh thần cao khiết, sống thanh bạch, không hám lợi danh.
Bên cạnh đó, Nguyễn Công Trứ còn có ý thức “cậy tài”, “khoe tài” mà ít nhà nho dám thể hiện. Chương 3: So sánh hình ảnh nam nhi của Nguyễn Công Trứ với sáng tác của nhà nho chính thống. Nội dung chủ yếu của chương 3 là so sánh và đối chiếu sáng tác của Nguyễn Công Trứ viết về chí nam nhi với các sáng tác của nhà nho chính thống để thấy được những nét chung và những nét độc đáo riêng của Nguyễn Công Trứ. Từ đó, chúng tôi từng bước lí giải sự độc đáo, táo bạo ấy.
15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com NỘI DUNG CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU HÌNH ẢNH NAM NHI TRONG SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN CÔNG TRỨ. Để nghiên cứu hình ảnh nam nhi trong các sáng tác của Nguyễn Công Trứ dưới sự ảnh hưởng của xã hội nam quyền, luận văn triển khai tìm hiểu một số vấn đề lí luận và thực tiễn về giới để tái hiện phần nào quan điểm văn hóa về người nam nhi trong xã hội nam quyền Việt Nam, đồng thời phác thảo qua nền văn học trung đại Việt Nam khi viết về người nam nhi theo quan điểm giới. Đây chính là cơ sở lí luận và thực tiễn để chúng tôi hoàn thành luận văn này.1 Khái niệm về giới ( Gender). Giới là một khái niệm mới xuất hiện ở các nước nói tiếng Anh vào cuối những năm 60 và xuất hiện ở nước ta vào những năm 80 của thế kỷ XX.
Cho đến nay thuật ngữ giới được hiểu chưa có sự thống nhất trong giới nghiên cứu và nhiều bằng chứng cho thấy còn không ít mơ hồ và sự nhầm lẫn trong cách hiểu về giới khi triển khai thực tế cũng như trong cuộc sống thường ngày. Giới không mang ý nghĩa là giới tính, cũng không mang ý nghĩa là phụ nữ. Giới là một thuật ngữ bắt nguồn từ ngành khoa học giới mới hình thành và đang thâm nhập vào nhiều ngành khoa học: tâm lí học xã hội, xã hội học, dân tộc học, văn hóa học. Người ta nghiên cứu giới theo quan điểm sinh lý, chỉ ra sự khác biệt về cấu tạo cơ thể, về sức khoẻ, về tính dục giữa nam và nữ để ứng dụng vào y học, sinh học… Người ta cũng có thể nghiên cứu về giới theo 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quan điểm xã hội để ứng dụng trong phân công lao động xã hội giữa nam và nữ, giải quyết vấn đề ngành nghề cho nam và nữ, so sánh và cân đối thu nhập giữa nam và nữ, đo lường độ tuổi nghỉ hưu phù hợp cho nam và nữ… Giới cũng có thể được nghiên cứu trong tâm lý học để chỉ ra được đặc trưng dị biệt trong tâm lý giữa phái nam và phái nữ….
Giới cũng có thể được nghiên cứu theo quan điểm văn hoá để chỉ ra cái nhìn về giới của nam và nữ đối với nhau, chỉ ra địa vị gia đình và xã hội của nam giới và nữ giới .Đây cũng là lí do khiến thuật ngữ giới được hiểu với ít nhiều khác biệt tùy vào góc độ của mỗi ngành khoa học. Có thể đưa ra một số khái niệm, định nghĩa về giới như sau: - “Giới là các quan niệm, hành vi, các mối quan hệ và tương quan về địa vị xã hội của phụ nữ và nam giới trong một bối cảnh xã hội cụ thể. Nói cách khác, nói đến giới là nói đến sự khác biệt giữa phụ nữ và nam giới từ giác độ xã hội” [10; tr. - “Giới là một thuật ngữ để chỉ vai trò xã hội, hành vi ứng xử xã hội và những kỳ vọng liên quan đến nam và nữ” [10; tr.
- “Giới là sự tập hợp các hành vi học được từ xã hội và những kỳ vọng về các đặc điểm và năng lực được cân nhắc nhằm xác định thế nào là một nam giới hay một phụ nữ ( hoặc một cậu bé hay cô bé) trong một xã hội hay nền văn hóa nhất định. Giới cũng phản ánh các mối quan hệ giữa nam và nữ, ai cần làm gì và ai là người kiểm soát việc ra quyết định, tiếp cận các nguồn lực và hưởng lợi” [10; tr. - “Giới là một phạm trù chỉ vai trò và mối quan hệ xã hội giữa nam giới và phụ nữ. Nói đên giới là nói đến cách thức phân định xã hội giữa nam giới và phụ nữ, liên quan tới hàng loạt vấn đề thuộc về thể chế và 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com xã hội chứ không phải là mối quan hệ cá biệt giữa một nam giới hay một phụ nữ nào” [10; tr.
Một số định nghĩa trên đây về giới cho phép ta hình dung cách tiếp cận đa dạng về thuật ngữ này. Tuy nhiên, chúng tôi nhất trí với quan điểm cho rằng: “Giới có thể dùng để chỉ vị thế xã hội của nam và nữ trong thực tế (tương quan về vị trí, vai trò xã hội của cả nam và nữ); có thể dùng để chỉ hành vi ứng xử xã hội của nam và nữ; cũng có thể dùng để chỉ các quan niệm, các kỳ vọng liên quan đến nam và nữ…Nói đến giới là nói đến vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quy định cho người nam và người nữ. Bao gồm việc phân chia lao động, các kiểu phân chia nguồn lợi và tương quan về địa vị xã hội của nam giới và nữ giới trong một bối cảnh văn hóa xã hội cụ thể. Thuật ngữ giới đề cập đến những đặc tính và cơ hội về mặt kinh tế, xã hội, văn hóa và tâm lí gắn với việc là phụ nữ hay nam giới.
Trong phần lớn các xã hội, là một người đàn ông hay là một người phụ nữ không chỉ có các đặc điểm sinh học khác nhau mà còn phải đối diện với những mong đợi khác nhau của xã hội về mặt ngoại hình, cách cư xử, tính cách và những công việc được cho là thích hợp đối với giới tính của người đó”. Như vậy, giới là một thuật ngữ được dùng để chỉ vai trò xã hội, hành vi ứng xử xã hội và những đòi hỏi, yêu cầu đối với nam và nữ. Nó là sản phẩm của xã hội – văn hóa. Trong cuộc sống hằng ngày, khái niệm giới (gender) thường bị dùng lẫn lộn với giới tính (sex).
Thực chất đây là hai phạm trù tương hỗ nhưng không đồng nhất. Giới tính là sự khác biệt giữa nam và nữ về mặt sinh học, bao gồm sự khác nhau về giải phẫu ( kích thước, hình dạng cơ thể…), đặc điểm sinh lí ( hoạt động hormone, chức năng của các bộ phận). Giới tính có những đặc trưng cơ bản là bẩm sinh, đồng nhất, không biến đổi và không thể thay đổi. 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Như vậy, giới tính gần như là kiểu phân nhóm xã hội dễ nhận thấy nhất mà chúng ta có thể dùng để nhận dạng mình và người khác giới.
Theo Keneth Clatterbaugh, có ba thành tố cấu thành nên khái niệm về giới tính nam (nam tính) là: “vai trò giới của người đàn ông, khuôn mẫu về nam tính, và lý tưởng về giới” [10; tr. Theo ông, thành tố đầu tiên lý giải đàn ông là gì vì nó “là một tập hợp hành vi, thái độ và hoàn cảnh thường thấy ở những người đàn ông thuôc một nhóm xác định nào đó” [10; tr. Thành tố thứ hai liên quan đến cái mà người ta nghĩ về đàn ông: “Một khuôn mẫu là ý tưởng chung về cái mà hầu hết mọi người đều xem là vai trò giới của đàn ông… Khuôn mẫu dựa trên định nghĩa về đàn ông và vai trò mà đàn ông thực sự đảm nhận không phải bàn cãi…” [10; tr. Còn lý tưởng về giới là “một quan niệm phổ biến cho rằng vai trò giới của người đàn ông nên như thế nào” [10; tr.
Ông cũng lưu ý rằng giữa ba thành tố này có những mối quan hệ tương tác và vì thế những ranh giới rạch ròi là không thể vạch ra mà là một sự kết hợp biện chứng. Các nhà nghiên cứu về giới đều cho rằng không thể có một mẫu hình đàn ông chung cho mọi thời đại và mọi khu vực vì nam tính, với tư cách là một cấu trúc văn hóa, khó tránh khỏi thay đổi. Song Geng dẫn nhận định của Micheal Kimmel cho rằng: “nam tính có ý nghĩa khác nhau trong những thời điểm khác nhau đối với những người khác nhau. Chúng ta hiểu thế nào là một người đàn ông trong nền văn hóa của chúng ta bằng cách đặt những định nghĩa của chúng ta trong sự đối lập với một tập hợp của „những người khác‟ - những thiểu số về chủng tộc, về giới tính, và trên hết là phụ nữ” [34; tr.
Vì thế, “Phản nữ tính (anti femininity) […] là trọng tâm của vấn đề nam tính thống trị ở phương Tây, tức là một người đàn ông thì có nghĩa là không giống 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com như là một người phụ nữ nên nam tính được định nghĩa bởi cái mà người đàn ông không là hơn bởi cái họ là [34; tr.