PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài LGBT (hay đồng tính luyến ái, cách gọi chung của đồng tính nữ, đồng tính nam, song tính và chuyển giới) là hiện tượng đã tồn tại từ rất lâu. Các tài liệu về xã hội học đã chỉ ra, tình yêu, tình dục đồng giới từng được coi là có thể chấp nhận được ở nhiều thể chế xã hội thời xưa như La Mã cổ đại (thế kỷ thứ 8 TCN – thế kỷ 5 SCN), Châu Âu thời Phục hưng (thế kỷ XV – XVII), Trung Quốc thời kỳ phong kiến (thế kỉ thứ 2 TCN – thế kỷ 17 SCN). Trong cuốn sách của tác giả Dover, K.J viết về hiện tượng đồng tính luyến ái thời kỳ Hy Lạp có nói rằng: Mối quan hệ giữa một người đàn ông lớn tuổi và một cậu trai chưa có râu trở nên là một mẫu mực lý tưởng của truyền thống.
Mối quan hệ trên có lợi cho cả hai. Người đàn ông lớn tuổi sẽ chăm sóc, giáo huấn, bảo vệ, yêu thương và là một tấm gương cho người yêu trẻ, trong khi người yêu trẻ thì dâng hiến sắc đẹp, sự trẻ trung, niềm ngưỡng mộ, và tình yêu [43]. Những cuộc vận động cho quyền của người đồng tính cũng làm dấy lên một số tranh cãi, song còn rất yếu ớt. Suốt một thời gian dài, nhìn chung, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều xếp đồng tính là bệnh tâm thần, là một thứ tội lỗi khủng khiếp.
Trong xã hội, người đồng tính bị lên án, bị bắt nhốt, đi tù nhiều năm, thậm chí xử tử hình. Trên báo chí, câu chuyện về họ thường được coi là một dạng “chuyện lạ”, chuyện đáng kì thị. Ngày 17 tháng 05 năm 1990, Tổ chức Y tế thế giới WHO đã chính thức loại đồng tính luyến ái ra khỏi danh sách bệnh tâm thần. Đây là một bước ngoặt đối với cộng đồng LGBT.
Từ đây, họ mạnh mẽ cất lên tiếng nói của cộng đồng mình, nhằm xóa bỏ quan niệm sai lầm trong xã hội và hưởng quyền được sống bình đẳng như những người dị tính. Tuyên bố năm 1990 của WHO cũng trở thành một dấu mốc đối với báo chí trong việc tiếp nhận và chuyển tải thông tin về cộng đồng LGBT. Nó cung cấp cơ sở khoa học vững 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chắc để báo chí đào sâu khai thác, tìm hiểu, nhằm cung cấp kiến thức, thông tin chính xác, dần thay đổi quan niệm sai lầm của công chúng về một “hiện tượng” gây tranh cãi. Báo chí đã cùng đồng hành với cộng đồng LGBT trong nhiều cuộc vận động, đấu tranh vì quyền bình đẳng, tự do.
Nhiều thông tin khoa học về tâm sinh lý của người đồng tính đã được đăng tải. Những tài năng, nghị lực sống mạnh mẽ, câu chuyện cảm động nhận được sự đồng cảm và trân trọng từ xã hội. Không ít ngôi sao nổi tiếng, các chính trị gia thẳng thắn thừa nhận xu hướng tính dục của mình, trở thành tấm gương để nhiều người trong cộng đồng LGBT tự tin bước ra “ánh sáng”, thể hiện con người mình. Đổi lại, sự cởi mở của người đồng tính đối với truyền thông mang lại cho báo chí nguồn chất liệu phong phú.
Càng được tiếp cận đúng người, hiểu họ một cách thấu đáo, báo chí càng chuyển tải thông tin đa chiều, chính xác hơn. Có thể nói, báo chí đã trở thành kênh thông tin hiệu quả, góp tiếng nói mạnh mẽ thúc đẩy sự thay đổi một cách có hệ thống nhận thức của công chúng với cộng đồng LGBT. Trên thế giới, nhiều quốc gia đã sửa đổi luật pháp, chính thức trao quyền cho người đồng tính. Tới nay, đã có 23 quốc gia hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới.
Tại Việt Nam, trước năm 2008, đồng tính là một khái niệm khá mơ hồ. Phần đông công chúng trong giai đoạn này đều nhận định đây là hiện tượng bất thường, trái tự nhiên, bệnh hoạn. Người đồng tính thường được liên tưởng tới các tệ nạn xã hội như nghiện ngập, lừa đảo, giết người cướp của, là nguyên nhân của các bệnh tình dục như HIV/AIDS, giang mai…Do thiếu thông tin khoa học, do sự né tránh của người đồng tính và các quan niệm xã hội, báo chí Việt Nam thường tập trung khai thác khía cạnh tiêu cực, các góc tối của cộng đồng những người đồng tính, tạo nên cái nhìn không thật sự đầy đủ về nhóm người này. Chỉ có 1 số ít bài báo mạnh dạn đi ngược lại với suy nghĩ của số đông thời bấy giờ.
Tuy nhiên, những biến chuyển mạnh mẽ trong đời sống chính trị - xã hội thế giới đã ảnh hưởng tới đời sống chính trị - xã hội tại 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Việt Nam. Hoạt động báo chí trong nước cũng không thể tách rời guồng quay của báo chí toàn cầu. Bắt kịp thay đổi về mọi mặt đời sống trong và ngoài nước để chuyển tải thông tin chính xác – kịp thời, định hướng dư luận luôn là nhiệm vụ cơ bản của những người làm báo. Tiếp nối hiệu ứng trên thế giới, cộng đồng LGBT tại Việt Nam bắt đầu có những bước đi mạnh dạn hơn.
Cùng lúc này, báo chí Việt Nam cũng trở thành cầu nối tin cậy giữa người đồng tính với xã hội. Đặc biệt, sự bùng nổ của internet, của báo điện tử và các mạng xã hội giúp những người làm báo Việt Nam tiếp cận nhanh chóng với nguồn dữ liệu khoa học khổng lồ cũng như thông tin đã qua chọn lọc, kiểm chứng trên các phương tiện truyền thông thế giới. Những thay đổi trong cách tiếp cận vấn đề và chuyển tải thông tin của báo chí Việt Nam đã góp phần làm thay đổi tư duy, nhận thức xã hội, khiến người đồng tính, từ chỗ bị kỳ thị, xa lánh, đến dần dần được chấp nhận. Ngày 19 tháng 6 năm 2014, Quốc hội Việt Nam thông qua Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có hiệu lực vào ngày 1 tháng 1 năm 2015.
Trong đó, Khoản 5 Điều 10 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định cấm kết hôn “giữa những người cùng giới tính” đã bị bỏ ra khỏi Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Mặc dù cho đến hiện tại, Nhà nước Việt Nam chưa thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính, nhưng việc bỏ cấm kết hôn đồng giới cho thấy nhận thức ngày càng rõ của xã hội, dẫn đến việc các nhà lập pháp đã thay đổi quan điểm về vấn đề này. Trong bài tham luận năm 2013 gửi về Bộ Tư pháp, PGS-TS Nguyễn Viết Tiến, Thứ trưởng Bộ Y tế đã đề xuất cho phép kết hôn đồng tính. Theo Thứ trưởng Tiến, đứng ở góc độ y tế thì đồng tính không phải là một loại bệnh.
Tác giả luận văn đánh giá, cách thức truyền tải thông tin về người đồng tính trên các phương tiện thông tin đại chúng qua các thời kỳ là một ví dụ điển hình về đặc điểm, vai trò của báo chí cũng như tác động qua lại của nó với xã hội. Nói cách khác, báo chí thể hiện năng lực nhận thức, trình độ phát triển của xã hội mà nó đại diện. Nhưng 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đồng thời, báo chí cũng là ngọn cờ đầu trong việc tuyên truyền thông tin mới mẻ, chính xác, định hướng dư luận hướng tới những điều tốt đẹp, đính chính, loại bỏ những quan niệm công chúng. Với nội dung thông tin có định hướng đúng đắn, chân thật, có sức thuyết phục, báo chí có khả năng hình thành dư luận xã hội, dẫn đến hành động xã hội, phù hợp với sự vận động của hiện thực theo những chiều hướng có chủ định [30].
Do đó, tác giả luận văn lựa chọn đề tài “Hình ảnh cộng đồng LGBT trên báo in – Những khác biệt sau 2 thập kỷ” để có cái nhìn cụ thể về hình ảnh những người đồng tính, song tính, chuyển giới trên phương tiện truyền thông đại chúng nói chung và báo in nói riêng. Nghiên cứu này nhằm đánh giá, phân tích sự thay đổi của báo chí trong cách tiếp cận và đưa tin về đề tài này suốt 20 năm qua; qua đó, chỉ rõ đặc điểm, vai trò, hiệu quả của hoạt động báo chí. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Qua quá trình tìm hiểu về các luận văn, luận án, công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài, tác giả nhận thấy, phần lớn các công trình về người LGBT tập trung chủ yếu ở các ngành Xã hội học, Luật học hay Công tác xã hội để phân tích thực trạng cộng đồng LGBT trong mối tương quan với xã hội, pháp luật hay quyền con người. Các công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề giới và giới tính trên truyền thông có thể kể đến như sau: Đề tài Bất bình đẳng giới trong các quảng cáo tuyển dụng trên báo in là nghiên cứu thực hiện năm 2006, phối hợp giữa Viện nghiên cứu về xã hội, kinh tế và môi trường (iSEE) và Khoa Xã hội học - Học viện Báo chí và Tuyên truyền.
Nghiên cứu này đã khảo sát trên một số báo in nhằm xem xét vấn đề giới trong các quảng cáo tuyển dụng để từ đó đánh giá cơ hội việc làm mà nhà tuyển dụng đưa ra đối với nam giới và nữ giới. Kết quả nghiên cứu cho thấy khoảng cách giới vẫn tồn tại ở một vài khía cạnh cụ thể. Tuy vấn đề giới trong cơ hội tuyển dụng không có sự chênh lệch quá lớn nhưng vẫn tồn 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tại những định kiến giới theo hướng có lợi cho các ứng viên là nam giới hơn nữ giới. Nghiên cứu "Định kiến giới trên báo chí Việt Nam" của tác giả Trần Thị Yến Minh - ThS Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng đăng trên Tạp chí Phát triển Kinh tế - Xã hội Đà Nẵng từ trang 47 đến trang 53.
ThS Minh chỉ ra mức độ của định kiến giới trong những thông điệp báo chí có chứa đựng hình ảnh nữ qua việc khảo sát hình ảnh nữ trên các tờ báo in Tuổi trẻ, Đà Nẵng, Công an thành phố Đà Nẵng, Phụ nữ Việt Nam, Sinh viên Việt Nam trong quý I năm 2014. Qua khảo sát 381 số báo với 575 mẫu đề cập đến giới nữ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp, tác giả nghiên cứu nhận thấy rằng bên cạnh những định hướng đúng đắn, hình ảnh giới, đặc biệt là chân dung nữ giới trên báo chí trong nhiều trường hợp vẫn còn bị miêu tả một chiều, năng lực và vị thế của nữ chưa được báo chí nhìn nhận đúng mức. Nguyên nhân của hiện trạng này là do bức tranh bình đẳng giới trong thực tế vẫn còn tồn tại nhiều mảng tối màu.