phần mở đầu và kết luận, bài luận văn gồm 4 phần nhƣ sau: Chƣơng 1: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận về vốn và hiệu quả sử dụng vốn tại NHTM. Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng 3: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại ngân hàng Vietcombank - Chi nhánh Đông Anh. 3 Chƣơng 4: Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại ngân hàng Vietcombank - Chi nhánh Đông Anh.
4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỐN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI NHTM 1. Tổng quan nghiên cứu Phân tích hiệu quả sử dụng vốn đóng vai trò quan trọng trong phân tích hoạt động kinh doanh nhằm đánh giá trình độ sử dụng vốn của ngân hàng thƣơng mại để đạt đƣợc kết quả cao nhất với chi phí thấp nhất. Đồng thời trên cơ sở đó, cung cấp các thông tin hữu ích cho các đối tƣợng liên quan nhận biết tình hình tài chính thực tế để có quyết định đầu tƣ hiệu quả. Do đó, đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài đƣợc công bố.
Có thể kể đến các công trình nghiên cứu sau: 1. Các nghiên cứu quốc tế Bitar và cộng sự (2018) đã nghiên cứu ảnh hƣởng của tỷ lệ vốn đến rủi ro, hiệu quả và lợi nhuận của ngân hàng tại các nƣớc OECD. Nghiên cứu đã lấy số liệu từ 1992 ngân hàng tại 39 quốc gia OECD trong giai đoạn 1999– 2013 nhằm kiểm tra xem liệu việc áp dụng tỷ lệ vốn cao hơn có hiệu quả trong việc giảm rủi ro và nâng cao hiệu quả cũng nhƣ lợi nhuận của các tổ chức ngân hàng hay không. Nghiên cứu chỉ ra rằng trong khi tỷ lệ vốn dựa trên rủi ro và phi rủi ro cải thiện hiệu quả và lợi nhuận của ngân hàng, tỷ lệ vốn dựa trên rủi ro không làm giảm rủi ro ngân hàng.
Sự kém hiệu quả của các tỷ lệ vốn dựa trên rủi ro liên quan đến rủi ro ngân hàng có thể sẽ trở nên trầm trọng hơn do việc áp dụng các hƣớng dẫn về vốn Basel III mới. Lotto (2018) đã kiểm tra tác động của quy định về yêu cầu vốn đối với hiệu quả hoạt động của ngân hàng ở Tanzania. Nghiên cứu sử dụng dữ liệu cấp ngân hàng trong giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2015. Kết quả cho thấy mối quan hệ tích cực và đáng kể giữa tỷ lệ vốn và hiệu quả hoạt động của ngân hàng.
Điều này cho thấy các ngân hàng thƣơng mại ở Tanzania có quy định về vốn chặt chẽ hơn thì hoạt động hiệu quả hơn. Mối quan hệ này cho 5 thấy rằng mức độ an toàn vốn không chỉ tăng cƣờng ổn định tài chính bằng cách cung cấp nguồn vốn lớn hơn mà còn cải thiện hiệu quả hoạt động của ngân hàng bằng cách ngăn ngừa vấn đề rủi ro đạo đức giữa cổ đông và chủ nợ. Kết quả này hàm ý rằng các quy định gia tăng về yêu cầu vốn ảnh hƣởng đến quyết định của ngân hàng trong việc xem xét lại chiến lƣợc hoạt động nội bộ của họ về mặt quản trị doanh nghiệp mạnh mẽ, phƣơng pháp đánh giá rủi ro, thủ tục đánh giá tín dụng, tuyển dụng nhân viên có trình độ cao hơn và nâng cao quy trình kiểm soát nội bộ. Saeed và cộng sự (2020) nghiên cứu mối quan hệ giữa rủi ro, vốn và hiệu quả đối với các ngân hàng Hồi giáo và ngân hàng thông thƣờng bằng cách sử dụng bộ dữ liệu trải rộng trên 14 quốc gia.
Nghiên cứu sử dụng điểm z làm đại diện cho rủi ro mất khả năng thanh toán, hiệu quả chi phí đƣợc ƣớc tính thông qua cách tiếp cận ngẫu nhiên và vốn hóa đƣợc phản ánh trên tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tài sản. Một loạt các biến số cấu trúc thị trƣờng, kinh tế vĩ mô và đặc thù của ngân hàng đƣợc sử dụng trong hệ thống gồm ba phƣơng trình, đƣợc ƣớc tính bằng kỹ thuật SUR. Nghiên cứu chỉ ra rằng phản ứng vốn hóa đối với việc gia tăng rủi ro mất khả năng thanh toán rõ ràng hơn đối với các ngân hàng Hồi giáo nhƣng có tác động nhỏ hơn khoảng năm lần đến việc giảm thiểu rủi ro so với các ngân hàng thông thƣờng. Hiệu quả chi phí cao hơn có liên quan đến rủi ro thấp hơn đối với các ngân hàng truyền thống, nhƣng điều ngƣợc lại lại đúng đối với các ngân hàng Hồi giáo.
Mối liên hệ giữa hiệu quả chi phí và vốn hóa chứng tỏ tác động thay thế đối với trƣờng hợp của các ngân hàng truyền thống nhƣng lại là tác động bổ sung đối với các ngân hàng Hồi giáo. Isnurhadi và cộng sự (2021) cũng đã nghiên cứu mối quan hệ giữa vốn ngân hàng, hiệu quả và rủi ro tại các ngân hàng Hồi giáo. Nghiên cứu này sử dụng dữ liệu từ 129 ngân hàng Hồi giáo trên thế giới, đƣợc lấy từ nhiều 6 nguồn dữ liệu khác nhau. Nhóm tác giả đã truy xuất dữ liệu ngân hàng cụ thể từ Moody’s Analytics BankFocus và Thomson Reuters Eikon, trong khi dữ liệu ở cấp quốc gia đƣợc lấy từ trang web của Ngân hàng Thế giới.
Nghiên cứu này sử dụng nhiều ƣớc tính khác nhau cả OLS và RE. Tuy nhiên, để khắc phục vấn đề tƣơng quan chuỗi có thể gây sai lệch trong kết quả nghiên cứu, chúng tôi đã sử dụng phƣơng pháp FE. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng vốn ngân hàng ảnh hƣởng tích cực đến sự ổn định ngân hàng và ảnh hƣởng tiêu cực đến rủi ro tín dụng (dự phòng tổn thất cho vay trên tổng nợ phải trả). Các phát hiện cũng cho thấy hiệu quả cũng có tác dụng tƣơng tự.
Thử nghiệm tƣơng tác giữa vốn ngân hàng và hiệu quả cho thấy hiệu quả khuyến khích các ngân hàng giảm thiểu rủi ro, kể cả khi vốn ngân hàng tƣơng đối thấp hơn. Nhƣ vậy, hầu hết các công trình nghiên cứu quốc tế đƣợc tổng quan đã cho thấy mối quan hệ giữa vốn, hiệu quả và rủi ro của ngân hàng. Các nghiên cứu trong nước Nguyễn Thị Tuyết Nga (2021) đã kiểm định sự tác động của các yếu tố đến hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu tại hệ thống ngân hàng thƣơng mại Việt Nam giai đoạn 2013-2019, thông qua sử dụng phƣơng pháp định lƣợng phƣơng pháp bình phƣơng bé nhất tổng quát khả thi (FGLS). Nghiên cứu này sử dụng dữ liệu từ các báo cáo tài chính đã kiểm toán đƣợc công bố trên website của 16 NHTM tại Việt Nam giai đoạn 2013-2019.
Kết quả cho thấy, hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu (ROE) chịu sự tác động ngƣợc chiều bởi các yếu tố: Tỷ lệ chi phí hoạt động (COSR), tỷ lệ vốn chủ sở hữu (EA) và tác động cùng chiều bởi các yếu tố: Quy mô ngân hàng thông qua tổng tài sản (SIZE), tỷ lệ thanh khoản (LIQ), rủi ro tín dụng (LLR). Đây là cơ sở để tác giả đƣa ra một số khuyến nghị cho các nhà quản trị, hoạch định chính sách tại ngân hàng thƣơng mại Việt Nam. Hoàng Quang Dũng (2022) tập trung đánh giá những thay đổi về quy 7 mô, chất lƣợng và hiệu quả sử dụng tài sản của các ngân hàng thƣơng mại cổ phần (NH TMCP) trong giai đoạn 2010 – 2021. Trên thực tế, hiệu quả sử dụng tài sản và hiệu quả sử dụng vốn là hai mặt của cùng một vấn đề tại NHTM.
Nghiên cứu sử dụng số liệu Báo cáo tài chính hợp nhất của 22 ngân hàng không do Nhà nƣớc sở hữu cổ phần chi phối và có đầy đủ Báo cáo tài chính hợp nhất đƣợc công bố trên website của các ngân hàng từ năm 2010 đến năm 2021 (bao gồm ABB, BAB, MSB, NAB, NVB, MBB, SHB, SCB, SGB, STB, VPB, OCB, HDB, VIB, VAB, LPB, EIB, PGB, ACB, KLB, SSB, TCB). Trên cơ sở phân tích những thay đổi về quy mô, chất lƣợng và hiệu quả sử dụng vốn của các ngân hàng thƣơng mại cổ phần trong giai đoạn 2010 – 2021, tác giả đã đề xuất một số giải pháp phát triển cho giai đoạn 2022 - 2025, định hƣớng đến năm 2030 nhƣ tăng trƣởng tín dụng hợp lý theo định hƣớng và chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nƣớc; kiểm soát tỷ lệ nợ xấu; thực hiện phân loại nợ, trích lập DPRR theo quy định của Ngân hàng Nhà nƣớc và tiến tới áp dụng theo thông lệ quốc tế;. Phan Anh (2023) đã phân tích tác động của hiệu quả vốn sử dụng đến kết quả hoạt động của ngân hàng thƣơng mại Việt Nam. Dữ liệu đƣợc sử dụng trong nghiên cứu là bộ dữ liệu bảng của 24 NHTM Việt Nam trong giai đoạn 10 năm (2012-2021) với 240 quan sát.
Bộ dữ liệu đƣợc thu thập từ các nguồn uy tín nhƣ bộ cơ sở dữ liệu S&P Capital IQ Pro và các báo cáo tài chính sau kiểm toán của các NHTM Việt Nam. Ƣớc lƣợng mô hình hồi quy dữ liệu bảng cho thấy, hiệu quả vốn sử dụng có ảnh hƣởng tích cực đến kết quả hoạt động của các NHTM Việt Nam cả trƣớc và trong thời gian dịch Covid-19. Do đó, hoạt động nâng cao hiệu quả vốn sử dụng cần luôn đƣợc ƣu tiên nhằm đạt đƣợc mức sinh lời cao hơn trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Bùi Huy Trung và cộng sự (2023) đã đánh giá tác động của hiệu quả sử dụng vốn trí tuệ đến rủi ro của các ngân hàng thƣơng mại Việt Nam.
Dựa trên 8 mẫu nghiên cứu gồm 13 NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2010- 2021, nhóm tác giả sử dụng công cụ ƣớc lƣợng Moment tổng quát (GMM) để đánh giá tác động của các biến phản ánh hiệu quả sử dụng vốn trí tuệ (bao gồm hiệu quả sử dụng vốn con ngƣời- HCE, vốn sử dụng- CEE và vốn cấu trúc- SCE) đến rủi ro của ngân hàng thƣơng mại (đo lƣờng thông qua chỉ số Z-score và tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng- NPL). Kết quả hồi quy cho thấy ngân hàng có hiệu quả sử dụng vốn trí tuệ càng cao sẽ có rủi ro đo lƣờng qua chỉ số Z-score càng cao, tuy nhiên rủi ro tín dụng có xu hƣớng giảm. Kết quả này là cơ sở trong việc đƣa ra các khuyến nghị điều hành hệ thống ngân hàng nói chung cũng nhƣ trong nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro của các ngân hàng thƣơng mại nói riêng. Khoảng trống nghiên cứu Có thể thấy, hiệu quả sử dụng vốn của ngân hàng là một trong những vấn đề đƣợc các nhà nghiên cứu khoa học, các nhà đầu tƣ, NHTM đặc biệt quan tâm, đƣợc thể hiện thông qua rất nhiều công trình nghiên cứu đã đƣợc công bố và ứng dụng.
Tuy nhiên, chƣa có công trình nào nghiên cứu về hiệu quả sử dụng vốn tại ngân hàng Vietcombank – Chi nhánh Đông Anh trong giai đoạn hiện nay.