phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo gồm có 4 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Lý luận cơ bản về hiệu quả sử dụng vốn của NHTM; Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu; Chƣơng 3: Thực trạng công tác quản lý và sử dụng vốn tại Ngân hàng NN&PTNT Việt Nam chi nhánh huyện Võ Nhai Thái Nguyên; Chƣơng 4: Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Ngân hàng NN&PTNT Việt Nam chi nhánh huyện Võ Nhai Thái Nguyên. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.vn/ 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Cơ sơ lý luận về Ngân hàng thƣơng mại 1. Khái quát chung về Ngân hàng thương mại Về mặt lịch sử, NHTM đã có quá trình hình thành và phát triển lâu dài gắn liền với quá trình phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hóa.
Từ các hoạt động cho vay tƣ nhân và cầm đồ xuất hiện trong thời kỳ cổ đại, các ngân hàng đã phát triển về quy mô, mở rộng về chức năng qua thời kỳ trung cổ và đạt tới sự phát triển rực rỡ trong nền kinh tế tƣ bản chủ nghĩa. Đến thế kỷ thứ 18, với sự can thiệp của Nhà nƣớc, ngân hàng phát hành đƣợc tách riêng ra để trở thành ngân hàng TW của các nƣớc, các ngân hàng còn lại không đƣợc phép phát hành tiền, có chức năng chuyên kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng. Đây chính là tiền thân của các NHTM. Ngày nay, nhất là trong các nền kinh tế thị trƣờng phát triển, NHTM đã trở thành các trung tâm tiền tệ, là cầu nối giữa ngƣời có vốn nhàn rỗi và ngƣời có nhu cầu sử dụng vốn, đồng thời là tổ chức cung cấp các dịch vụ ngân hàng nhƣ chiết khấu thƣơng phiếu, bảo quản tài sản, đồ vật quý, thanh toán cho khách hàng, tƣ vấn…Trong nền kinh tế thị trƣờng hiện đại, NHTM đã phát triển thành hệ thống nhiều chi nhánh, có vai trò rất quan trọng trên thị trƣờng tài chính và ảnh hƣởng lớn đến trạng thái kinh tế vĩ mô của quốc gia, quốc tế.
NHTM xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử nhân loại trƣớc khi chủ nghĩa tƣ bản ra đời. Từ khi hình thành và phát triển cho đến nay cũng có rất nhiều quan điểm đƣa ra những khái niệm về NHTM và quan điểm phổ biến nhất đều cho rằng: “NHTM là doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng, một tổ chức cung ứng vốn chủ yếu và hữu hiệu của nền kinh tế”. [4] Chính vì vậy, ngân hàng là một loại hình tổ chức quan trọng đối với nền kinh tế, các ngân hàng có thể định nghĩa qua chức năng, các dịch vụ hoặc vai trò mà chúng thực hiện trong nền kinh tế. Vấn đề là ở chỗ các yếu tố trên không ngừng thay đổi.
Thực tế, rất nhiều tổ chức tài chính - bao gồm cả các công ty Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.vn/ 6 kinh doanh chứng khoán, công ty môi giới chứng khoán, quỹ tƣơng hỗ và công ty bảo hiểm hàng đầu đều đang cố gắng cung cấp các dịch vụ của ngân hàng. Ngƣợc lại, ngân hàng đang đối phó với các đối thủ cạnh tranh (các tổ chức phi ngân hàng) bằng cách mở rộng phạm vi cung cấp dịch vụ về bất động sản và môi giới chứng khoán, tham gia hoạt động bảo hiểm, đầu tƣ vào quỹ tƣơng hỗ và thực hiện dịch vụ khác. [4] Có nhiều khái niệm về NHTM, một số nƣớc tƣ bản nhƣ Mỹ, Nhật. NHTM đƣợc định nghĩa nhƣ một tổ chức mà hoạt động kinh doanh chủ yếu của nó là huy động vốn từ tiền gửi của cá nhân và đơn vị kinh doanh (các công ty) và để cho vay lại các đối tƣợng đó.
Các ngân hàng này không đƣợc phép kinh doanh tổng hợp các dịch vụ khác nhƣ đầu tƣ tài chính, cung cấp dịch vụ ngân hàng cho các nhóm ngành nghề riêng biệt. đây là các ngân hàng hoạt động theo mô hình chuyên doanh. Trong khi đó, một số nƣớc ở Châu Âu nhƣ Đức, Hà Lan, Thụy Sĩ. lại quan niệm rằng NHTM có thể kinh doanh đồng thời tổng hợp tất cả các dịch vụ ngân hàng, đó là mô hình ngân hàng đa năng.
Trong xu thế phát triển và hội nhập hiện nay, các ngân hàng thƣờng hƣớng tới mô hình đa năng để có thể sử dụng đƣợc một cách hiệu quả nhất nguồn vốn mà ngân hàng huy động đƣợc. Hơn nữa đây cũng là một hình thức phân tán rủi ro bằng cách đa dạng hóa các nghiệp vụ. Cách tiếp cận thận trọng nhất có thể xem xét ngân hàng trên phƣơng diện những loại hình dịch vụ mà chúng cung cấp. Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào khác trong nền kinh tế.
Nhƣng theo quan điểm của Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam ngày 15 tháng 6 năm 2004 của nƣớc Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thì “NHTM là một sản phẩm của nền kinh tế thị trƣờng, NHTM đƣợc coi là “trái tim lớn”, một doanh nghiệp thực sự - doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ”. Cụ thể “NHTM là một loại hình TCTD đƣợc phép thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động khác có liên quan nhƣ: nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.vn/ 7 toán cho toàn bộ nền kinh tế”. Trên cơ sở dựa trên các hoạt động chủ yếu, NHTM đƣợc hiểu là “loại hình doanh nghiệp được thành lập theo các quy định của pháp luật, thực hiện kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán; thực hiện các hoạt động kinh doanh khác có liên quan”[5] Có thể nói, NHTM là một doanh nghiệp đặc biệt bởi vì trƣớc hết nó kinh doanh trong một lĩnh vực đặc biệt đó là tiền tệ. Thứ hai, các hoạt động của nó cũng mang tính đặc thù để phù hợp với lĩnh vực kinh doanh.
NHTM có vai trò to lớn trong nền kinh tế hiện đại. Hệ thống NHTM đƣợc ví nhƣ mạch máu, chất dầu bôi trơn của quá trình tái sản xuất xã hội, là trợ thủ đắc lực của Nhà nƣớc và các chủ thể kinh tế. Đặc trưng của Ngân hàng thương mại Chính vì kinh doanh trong một lĩnh vực mang tính chất đặc biệt nên hoạt động của NHTM có những đặc trƣng khác biệt so với các loại hình kinh doanh khác. Thứ nhất: Nguồn vốn chủ yếu để ngân hàng kinh doanh không phải nguồn vốn tự có mà là nguồn vốn huy động từ dân cƣ và các tổ chức kinh tế - tài chính khác và sử dụng nguồn vốn này để cho vay, đầu tƣ.
trên cơ sở đảm bảo lợi ích và quyền lợi cho khách hàng trong đó có lợi ích của ngân hàng. Thứ hai: Sản phẩm của ngân hàng mang tính vô hình. Không giống nhƣ sản phầm của doanh nghiệp đƣợc sản xuất từ nguyên vật liệu hữu hình, sản phẩm của ngân hàng mang tính phi vật chất và không có hàng tồn kho. Quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm diễn ra cùng lúc, khi khách hàng có nhu cầu sử dụng.
Chính đặc điểm này của sản phẩm ngân hàng đòi hỏi ngƣời trực tiếp cung cấp sản phẩm dịch vụ - nhân viên ngân hàng phải có kỹ năng, trình độ chuyên môn cao, hiểu rõ các sản phẩm ngân hàng để đảm bảo sản phẩm cung cấp ra có chất lƣợng tốt nhất nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng. Thứ ba: Do kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ và sản phẩm ngân hàng mang tính vô hình nên hoạt động kinh doanh của ngân hàng chứa đựng nhiều rủi ro và mang tính cạnh tranh cao. Giá trị tiền tệ thƣờng không ổn định và biến động theo những thay đổi của nền kinh tế, do đó rủi ro trong hoạt động ngân hàng là khó tránh Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.vn/ 8 khỏi khi có những biến động đột ngột. Tính vô hình của sản phẩm ngân hàng khiến cho sản phẩm ngân hàng dễ bị sao chép.
Vì vậy, hầu hết các sản phẩm của các ngân hàng đều giống nhau về bản chất và tính hữu ích. Khi một ngân hàng tạo ra đƣợc một sản phẩm ƣa chuộng, lập tức có ngân hàng khác cung cấp sản phẩm đó để cạnh tranh. Thứ tư: Chính vì mức độ cạnh tranh khốc liệt và rủi ro cao nên NHTM bị quản lý và giám sát chặt chẽ bởi luật pháp và các quy định của Nhà Nƣớc. Vì sự sụp đổ của một ngân hàng có thể kéo theo sự sụp đổ của toàn bộ hệ thống ngân hàng từ đó gây ảnh hƣởng xấu đến nền kinh tế Thứ năm: Hoạt động kinh doanh của NHTM là lĩnh vực chịu sự tác động và đồng thời ứng dụng nhiều tiến bộ khoa học công nghệ.
Công nghệ ngân hàng là nguồn lực nội tại của ngân hàng về tƣ duy kinh doanh, tạo ra các sản phẩm thích ứng với thị trƣờng. Vai trò của Ngân hàng thương mại NHTM có ảnh hưởng lớn tới nền kinh tế thông qua các vai trò: - NHTM là nơi tập trung vốn tạm thời nhàn rỗi trong xã hội để cung cấp cho các nhu cầu của nền kinh tế, qua đó chuyển tiền thành tƣ bản để đầu tƣ phát triển sản xuất, tăng cƣờng hiệu quả hoạt động của tiền vốn. Trong xã hội luôn luôn tồn tại tình trạng thừa và thiếu vốn một cách tạm thời. Những cá nhân, tổ chức có tiền nhàn rỗi tạm thời thì muốn bảo quản số tiền một cách an toàn nhất và có hiệu quả nhất.
Trong khi đó những cá nhân, tổ chức có nhu cầu về vốn thì muốn vay đƣợc những khoản vốn nhằm phục vụ cho hoạt động kinh doanh của mình. Chính vì vậy NHTM là một trung gian tài chính tốt nhất để thực hiện chức năng là cầu nối giữa cung và cầu về vốn. Ngân hàng là một điạ chỉ tốt nhất mà những ngƣời dƣ thừa về vốn có thể gửi tiền một cách an toàn và hiệu quả nhất và ngƣợc lại cũng là một nơi sẵn sàng đáp ứng những nhu cầu về vốn của các cá nhân và doanh nghiệp. [4] - Hoạt động của các NHTM góp phần tăng cƣờng hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp qua đó góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế.