CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Tổng quan về vốn trong doanh nghiệp 1.Khái niệm vốn: Đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào , vốn là điều kiện không thể thiếu để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh. Khái niệm về vốn cũng có rất nhiều, qua từng thời kỳ, từng giai đoạn và với mỗi nhà kinh tế học khác nhau lại khác nhau: -Theo K.Marx : “ Vốn là tư bản , là giá trị đem lại giá trị thặng dư, là một đầu vào của quá trình sản xuất. Samuelson đã nhìn nhân vốn ở hình thái hiện vật, là tài sản cố định của doanh nghiệp : “Vốn là hàng hoá được sản xuất ra để phục vụ cho quá trình sản xuất mới, là một trong ba yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ( vốn, lao động , đất đai) - Trong cuốn Từ điển kinh tế hiện đại có giải thích: "Capital - tư bản/vốn: một từ dùng để chỉ một yếu tố sản xuất do hệ thống kinh tế tạo ra. Hàng hoá tư liệu vốn là hàng hoá được sản xuất để sử dụng như yếu tố đầu vào cho quá trình sản xuất sau.
Vì vậy, tư bản này có thể phân biệt được với đất đai và sức lao động, những thứ không được coi là do hệ thống kinh tế tạo ra. Do bản chất không đồng nhất của nó mà sự đo lường tư bản trở thành nguyên nhân của nhiều cuộc tranh cãi trong lý thuyết kinh tế." (Từ điển kinh tế học hiện đại, NXB Chính trị quốc gia - Hà Nội, 1999, Tr. 129) Các quan điểm trên tuy đã thể hiện được vai trò, tác dụng của vốn trong những điều kiện lịch sử cụ thể, phù hợp với yêu cầu , mục đích nghiên cứu nhưng vẫn bị hạn chế về sự thống nhất giữa vốn với tài sản doanh nghiệp. Trong nền kinh tế thị trường, vốn được quan niệm là một yếu tố đầu vào của không chỉ một quá trình sản xuất riêng lẻ mà của cả quá trình sản xuất và tái sản xuất diễn ra liên tục trong suốt thời gian tồn tại của doanh nghiệp.
Mặt khác , qua công thức T – H – SX – H’ – T’ (T’ > T ) , ta có thể thấy rõ hơn tầm quan trọng của vốn trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Điều đó có nghĩa là số vốn bỏ ra ban đầu không chỉ đáp ứng nhu cầu sản xuất mà sau quá trình lưu thông của hàng hoá , dịch vụ còn tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp. Vậy ta có thể đưa ra một khái niệm chung nhất về vốn : Trần Thị Thái Bình – KTĐT 48E Chuyên đề thực tập tốt nghiệp -9- “ Vốn là biểu hiện về mặt giá trị của các yếu tố đầu vào , được đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vào tạo ra giá trị thặng dư đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp “ Từ khái niệm trên ta có thể rút ra được 5 đặc trưng cở bản về vốn như sau : Vốn được biểu hiện bằng giá trị tài sản hữu hình và tài sản vô hình của doanh nghiệp Vốn được sử dụng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm mục đích sinh lời, tạo lợi nhuận cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, việc lựa chọn nguồn vốn trong các doanh nghiệp khác nhau sẽ không giống nhau, nó phụ thuộc vào một loạt các nhân tố như : Trạng thái của nền kinh tế Ngành kinh doanh hay lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp Quy mô và cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp Trình độ khoa hoc - kỹ thuật và trình độ quản lý Chiến lược phát triển và chiến lược đầu tư của doanh nghiệp Thái độ của chủ doanh nghiệp Chính sách thuế … Vốn có giá trị về mặt thời gian nên ở các thời điểm khác nhau thì giá trị của 1 đồng vốn cũng khác nhau.
Vì thế doanh nghiệp cần phải tính toán và cân nhắc một cách kỹ lưỡng hơn về giá trị và hiệu quả sử dụng vốn. Vốn luôn gắn với chủ sở hữu Vốn được coi như một loại hàng hoá đặc biệt, có thể đem trao đổi trên thị trường – đó là thị trường vốn và thị trường tài chính. Phân loại vốn trong doanh nghiệp : 1.1 Phân loại vốn theo nguồn hình thành Tuỳ theo loại hình doanh nghiệp và đặc điểm cụ thể mà mỗi doanh nghiệp có thể lựa chọn phương thức phù hợp nhất cho doanh nghiệp của mình. Để tiến hành phân loại vốn thì có nhiều tiêu thức khác nhau để phân loại như theo nguồn hình thành, theo phương thức chu chuyển , theo thời gian huy động và sử dụng vốn.
Theo nguồn hình thành, vốn trong doanh nghiệp bao gồm : Vốn chủ sở hữu , vốn huy động của doanh nghiệp. Vốn chủ sở hữu : Vốn chủ sở hữu là số vốn do những người sở hữu doanh nghiệp , những nhà đầu tư đóng góp để thành lập và duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh của Doanh Trần Thị Thái Bình – KTĐT 48E Chuyên đề thực tập tốt nghiệp -10- nghiệp. Tuỳ vào từng loại hình doanh nghiệp mà những người chủ sở hữu của doanh nghiệp cũng khác nhau. Ví dụ chủ sở hữu doanh nghiệp Nhà Nước là Nhà Nước ; chủ sở hữu các công ty cổ phần là các cổ đông.
Vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp có thể chia ra làm 3 loại sau : -Vốn góp ban đầu : Khi doanh nghiệp được thành lập bao giờ chủ doanh nghiêpj cũng phải có 1 số vốn ban dầu nhất định do các chủ sở hữu đóng góp. Số vốn này được ghi vào vốn điều lệ của doanh nghiệp ( con số này phải lớn hơn hoạc bằng mức vốn pháp định là mức vốn tối thiểu để doanh nghiệp được thành lập do Nhà Nước qui định ). Đối với các doanh nghiệp cổ phần thì phần lớn vốn góp là do các thành viên hoặc cổ đông đóng góp được ghi trong điều lệ của công ty. -Nguồn vốn từ lợi nhuận không chia : Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, nếu doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả thì doanh nghiệp sẽ có những điều kiện thuận lợi để tăng trưởng nguồn vốn.
Nguồn vốn tích luỹ từ lợi nhuận không chia là bộ phận lợi nhuận được sử dụng để tái đầu tư, mở rộng sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp chứ không chia cho các chủ sở hữu. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay đây chính là một nguồn vốn có vai trò quan trọng. Đối với các doanh nghiệp Nhà Nước thì việc tái đầu tư phụ thuộc không chỉ vào khả năng sinh lợi của bản thân doanh nghiệp mà còn phụ thuộc vào chính sách khuyến khích tái đầu tư của Nhà Nước. Đặc biệt ở các công ty cổ phần thì việc để lại lợi nhuận liên quan đến một yếu tố rất nhạy cảm.
Khi công ty để lại 1 phần lợi nhuận nào đó để chia lãi cổ phần, các cổ đông không được nhận tiền lãi cổ phần nhưng bù lại họ có quyền sở hữu số vốn cổ phần tăng lên của công ty. Như vậy, giá trị của các cổ phiếu sẽ tăng lên cùng với việc tự tài trợ bằng nguồn vốn nội bộ. Do vậy, điều này 1 mặt khuyến khích cổ đông giữ cổ phiếu lâu dài, nhưng mặt khác lại đễ làm giảm tính hấp dẫn của cổ phiếu trong thời kỳ trước mắt đối với các cổ công có nhu cầu chỉ giũ cổ phiếu trong thời gian ngắn hạn. - Tăng vốn bằng phát hành cổ phiếu mới: Một nguồn tài chính dài hạn rất quan trọng là phát hành cổ phiếu để huy động vốn cho doanh nghiệp.
Phát hành cổ phiếu được gọi là hoạt động tài trợ dài hạn cho doanh nghiệp.Gồm cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi. Ngoài ra vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp còn có thể được bổ sung từ chênh lệch đáng giá lại tài sản cố định, chênh lệch tỷ giá. Vốn huy động của Doanh nghiệp Trần Thị Thái Bình – KTĐT 48E Chuyên đề thực tập tốt nghiệp -11- Vốn chủ sở hữu đóng vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất của doanh nghiệp nhưng nguồn vốn đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp không chỉ có vốn chủ sở hữu. Để đáp ứng nhu cầu về vốn , doanh nghiệp có thể huy động vốn dưới nhiều dạng hình thức khác nhau: vay nợ, liên doanh liên kết , tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng, đi thuê và các hình thức khác.
-Nguồn vốn tín dụng ngân hàng : có thể nói đây là 1 trong những nguồn vốn quan trọng nhất , không chỉ đối với doanh nghiệp mà còn đối với toàn bộ nền kinh tế. Nó có thể là vốn vay ngắn hạn, trung hạn , dài hạn tuỳ theo nhu cầu của doanh nghiệp và sự thoả thuận giữa doanh nghiệp với ngân hàng. Trong quá trình hoạt động các doanh nghiệp thường vay ngân hàng để đảm bảo nguồn tài chính cho các hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc biệt là đảm bảo đủ vốn cho các dự án mở rộng hoặc đầu tư chiều sâu của doanh nghiệp. - Vốn liên doanh liên kết : là vốn do các bên tham gia liên doanh , liên kết hợp tác sản xuất với doanh nghiệp đóng góp.
- Vốn tín dụng thương mại : Đây là nguồn vốn hình thành một cách tự nhiên trong quan hệ mua bán chịu, mua bán trả chậm hay trả góp. Tài trợ bằng nguồn vốn tín dụng thương mại có ưu điểm là phương thức tài trợ rẻ , tiện dụng và linh hoạt trong kinh doanh. Hơn nữa nó còn tạo khả năng mở rộng các quan hệ hợp tác kinh doanh 1 cách lâu bền. Trong xu hướng hiện nay, các hình thức tín dụng ngày càng được đa dạng hoá và linh hoạt hơn với tính cạnh tranh cao hơn.
Do đó, các doanh nghiệp cũng có nhiều cơ hội để lựa chọn nguồn vốn tài trợ cho hoạt động của doanh nghiệp. - Vốn tín dụng thuê – mua: là hình thức tín dụng dàu hạn , được thực hiện thông qua việc cho thuê máy móc, thiết bị, các động sản và bất động sản khác theo yêu cầu của bên thuê và nắm giữ quyền sở hữu đối với tài sản cho thuê. Nó giúp doanh nghiệp thiếu vốn vẫn có được tài sản cần thiết để sử dụng vào hoạt động kinh doanh của mình.2 Phân loại theo phương thức chu chuyển : Theo phương thức chu chuyển vốn trong doanh nghiệp bao gồm : vốn cố định và vốn lưu động. Vốn cố định Là biểu hiện bằng tiền của TSCĐ.
Do vậy trước khi nghiên cứu vốn cố định ta xem xét TSCĐ.