Luận án tiến sĩ hiệu quả của các dạng phân đạm trên phát thải n2o bốc thoát nh3 và năng suất trong canh tác lúa ở đồng bằng sông cửu long

Chuyên khảo Hiệu quả phân đạm trên phát thải n2o, thoát nh3 và năng suất lúa tại đ phân tích chuyên sâu các khía cạnh quan trọng trong lĩnh vực

Trường đại học

Trường Đại học Cần Thơ

Chuyên ngành

Khoa học Đất

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2017

199
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Phân đạm và tác động môi trường

Nghiên cứu tập trung vào hiệu quả phân đạm trong việc giảm phát thải N2Othoát NH3 tại Đồng bằng sông Cửu Long. Các dạng phân đạm được khảo sát bao gồm urê, urê-nBTPT, NPK viên nén và NPK IBDU. Kết quả cho thấy phân đạm có ảnh hưởng đáng kể đến lượng khí thải và năng suất lúa. Phân NPK viên nénNPK IBDU giúp giảm phát thải N2Othoát NH3 so với urê thông thường. Điều này khẳng định vai trò của quản lý phân bón trong nông nghiệp bền vững.

1.1. Phát thải N2O

Phát thải N2O là một trong những vấn đề môi trường nghiêm trọng trong canh tác lúa. Nghiên cứu chỉ ra rằng phân NPK viên nénNPK IBDU giảm đáng kể lượng N2O so với urê. Tưới khô ngập luân phiên cũng góp phần giảm phát thải N2O mà không ảnh hưởng đến năng suất lúa. Điều này cho thấy sự cần thiết của việc áp dụng kỹ thuật canh tác tiên tiến để giảm tác động đến biến đổi khí hậu.

1.2. Thoát NH3

Thoát NH3 là một dạng mất đạm phổ biến trong canh tác lúa. Nghiên cứu cho thấy phân NPK viên nénNPK IBDU giảm thoát NH3 so với urê. Bón vùi phân đạm giúp giảm lượng NH3 thoát ra, đồng thời tăng hiệu quả sử dụng đạm. Điều này khẳng định tầm quan trọng của quản lý phân bón trong việc giảm thiểu tác động môi trường.

II. Hiệu quả phân đạm và năng suất lúa

Nghiên cứu đánh giá hiệu quả phân đạm đối với năng suất lúa tại Đồng bằng sông Cửu Long. Kết quả cho thấy phân NPK viên nénNPK IBDU không làm tăng năng suất lúa so với urê, nhưng giúp giảm chi phí phân bón và tác động môi trường. Liều lượng bón 80 kgN/ha được khuyến nghị để đạt năng suất lúa tối ưu, đồng thời giảm phát thải N2Othoát NH3.

2.1. Năng suất lúa

Năng suất lúa không có sự khác biệt đáng kể giữa các dạng phân đạm. Tuy nhiên, phân NPK viên nénNPK IBDU giúp duy trì năng suất lúa ở mức cao với liều lượng bón thấp hơn. Điều này cho thấy tiềm năng của việc sử dụng phân bón hữu cơphân bón hóa học tiên tiến trong hệ thống canh tác bền vững.

2.2. Hiệu quả sử dụng đạm

Hiệu quả sử dụng đạm được cải thiện đáng kể khi sử dụng phân NPK viên nénNPK IBDU. Bón vùi phân đạm giúp tăng khả năng hấp thụ đạm của cây lúa, đồng thời giảm thiểu mất đạm do thoát NH3phát thải N2O. Điều này khẳng định tầm quan trọng của quản lý phân bón trong việc nâng cao hiệu quả nông nghiệp.

III. Kỹ thuật canh tác và quản lý nước

Nghiên cứu khẳng định vai trò của kỹ thuật canh tácquản lý nước trong việc giảm phát thải N2Othoát NH3. Tưới khô ngập luân phiên được chứng minh là một phương pháp hiệu quả để giảm phát thải N2O mà không ảnh hưởng đến năng suất lúa. Điều này cho thấy sự cần thiết của việc áp dụng kỹ thuật canh tác tiên tiến trong nông nghiệp bền vững.

3.1. Tưới khô ngập luân phiên

Tưới khô ngập luân phiên giúp giảm phát thải N2O mà không ảnh hưởng đến năng suất lúa. Phương pháp này cũng giúp tiết kiệm nước và cải thiện hiệu quả sử dụng đạm. Điều này khẳng định tầm quan trọng của quản lý nước trong việc giảm thiểu tác động môi trường.

3.2. Quản lý phân bón

Quản lý phân bón hiệu quả là yếu tố then chốt trong việc giảm phát thải N2Othoát NH3. Bón vùi phân đạm và sử dụng phân bón hữu cơ giúp tăng hiệu quả sử dụng đạm, đồng thời giảm thiểu tác động đến môi trường. Điều này cho thấy sự cần thiết của việc áp dụng kỹ thuật canh tác tiên tiến trong nông nghiệp bền vững.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ hiệu quả của các dạng phân đạm trên phát thải n2o bốc thoát nh3 và năng suất trong canh tác lúa ở đồng bằng sông cửu long

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Việc giảm phát thải khí nhà kính (KNK) đặc biệt là khí N2O rất quan trọng trong giảm tác nhân gây biến đổi khí hậu. Theo các báo cáo của Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC) và Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) cho thấy lượng N2O phát thải vào khí quyển khoảng 8,5 - 27,7 triệu tấnN2O/năm và lượng này tiếp tục tăng 0,25% mỗi năm (Denman et al. Các hoạt động nông nghiệp tạo ra lượng phát thải khí N2O lớn nhất (tương đương 1,7 - 4,8 triệu tấnN2O/năm, trong đó bón phân đạm đã làm tăng đáng kể sự phát thải trực tiếp khí N2O với lượng phát thải 1,7 triệu tấnN2O/năm (Ussiri & Lal, 2013). Do đó nhiều nghiên cứu về các dạng phân đạm cải tiến đã được thực hiện để làm chậm tiến trình thủy phân urê, giảm sự nitrate hóa, làm chậm tan phân bón để giảm lượng khí N2O phát thải, giảm lượng khí NH3 bốc thoát, tăng hiệu quả sử dụng phân đạm và gia tăng năng suất cây trồng.

Theo Ussiri & Lal (2013), bón phân urê trên đất lúa có lượng N 2O phát thải 1,38 kgN2O/ha mỗi vụ. Bón vùi phân đạm urê, urê viên nén (USG); hay bón các dạng phân N chậm tan gồm urê có lớp phủ nhựa cây neem (NCU), urê có lớp phủ lưu huỳnh (SCU), urê có lớp phủ polymer (PCU); hoặc bón phân đạm có chất ức chế sự nitrate hóa như Dicyadiamide, encapsulated calcium carbide (ECC), Hydroquinone, Thiosulfate (trừ Nitrapyrin) có hiệu quả làm giảm sự phát thải N2O (Majumdar, 2013). Tuy nhiên, các nghiên cứu về phát thải N2O trong canh tác lúa thực hiện trên dạng phân đạm cải tiến chưa được nhiều; chỉ có một số ít nghiên cứu gần đây đối với phân urê-nBTPT [N-(n-butyl) thiophosphoric triamide] và chưa được thực hiện trên dạng phân NPK viên nén và phân chậm tan IBDU. Trên thế giới, các nghiên cứu tập trung chủ yếu trên giảm phát thải N2O của các dạng phân đạm cải tiến trong điều kiện tưới ngập theo truyền thống, chưa có nhiều nghiên cứu trong điều kiện tưới khô ngập luân phiên (AWD).

Hiện nay, kỹ thuật tưới AWD đang được khuyến cáo áp dụng trong canh tác lúa nhằm giảm lượng nước tưới, tuy nhiên kỹ thuật này có thể góp phần làm tăng lượng N2O phát thải, do kỹ thuật AWD tạo điều kiện cho đất thoáng khí, có thể kích thích tuần tự quá trình nitrate hóa - khử nitrate và thúc đẩy quá trình hình thành N2O (Buresh & Haefele, 2010). Các nghiên cứu sự phát thải N2O trong điều kiện tưới khô ngập luân phiên chủ yếu chỉ được nghiên cứu đối với phân urê, chưa được thực hiện trên các dạng phân đạm mới. Do đó, cần có các nghiên cứu về ảnh hưởng của các dạng phân đạm cải tiến, đặc biệt là đối với kỹ thuật 1 bón vùi phân viên nén có chứa cả NP, NK và NPK trong điều kiện quản lý nước tưới khô ngập luân phiên đến sự phát thải NO2, do việc tưới khô ngập luân phiên có thể làm gia tăng sự nitrate hóa ở các tầng đất bên dưới tầng đất mặt. Các nghiên cứu trước đây về bón phân vùi chủ yếu tập trung ở việc vùi phân viên urê so với bón vãi urê, có rất ít các nghiên cứu phát thải N2O khi bón vùi phân viên nén có chứa NP, NK và NPK trong điều kiện đất lúa.

Ngoài ra, trên thế giới, các nghiên cứu phát thải N2O khi bón phân urê- nBTPT chủ yếu được thực hiện trên cây trồng cạn (bắp, đậu, cỏ trồng…) và có ít nghiên cứu trên cây lúa. Tại Việt Nam, các nghiên cứu phát thải N2O thực hiện chủ yếu trên phân urê, riêng phát thải N2O đối với phân urê-nBTPT được Nguyễn Văn Bộ và ctv (2016) nghiên cứu trên đất phù sa và đất phù sa nhiễm mặn tại tỉnh Nam Định trong vụ mùa 2014 và vụ xuân 2015. Kết quả nghiên cứu này đã cho thấy lượng N2O phát thải trong một vụ lúa khi sử dụng phân urê-nBTPT (0,44 - 0,76 kgN2O/ha) có thể giảm so với bón phân urê (0,62 - 0,93 kgN2O/ha). Tuy nhiên, đối với điều kiện canh tác lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) trên nhóm đất có sa cấu sét nặng, nghiên cứu về sự phát thải N2O chưa được thực hiện trên các dạng phân đạm cải tiến như phân urê-nBTPT, NPK viên nén cũng như phân IBDU.

Bên cạnh đó các nghiên cứu về phát thải N2O cũng chỉ được thực hiện trong điều kiện quản lý nước ngập theo truyền thống, chưa được thực hiện trong điều kiện tưới khô ngập luân phiên. Do đó câu hỏi đặt ra là việc bón các dạng phân đạm cải tiến cụ thể là các dạng phân urê- nBTPT, NPK viên nén, IBDU trong điều kiện tưới khô ngập luân phiên có làm tăng phát thải N2O không cần được nghiên cứu để có thể đánh giá ý nghĩa của bón các dạng phân đạm mới này về mặt môi trường ở chế độ quản lý nước AWD là chế độ quản lý nước đang được khuyến cáo áp dụng hiện nay. Nghiên cứu sự bốc thoát NH3 có ý nghĩa quan trọng làm cơ sở khoa học cho đánh giá hiệu quả làm giảm mất đạm của với các dạng phân đạm mới. Theo Choudhury & Kennedy (2005).

Bốc thoát NH3 là con đường thất thoát đạm chủ yếu (có thể lên đến 60% lượng N bón) trên đất lúa nước. Tuy nhiên, hiệu quả giảm bốc hơi NH3 khi bón phân urê-nBTPT rất thay đổi tùy theo tính chất đất và điều kiện canh tác (Christianson et al., 1995; Freney et al. Các kết quả thí nghiệm gần đây của Trung tâm Phát triển Phân bón Quốc tế (IFDC) bón vùi phân urê viên nén (USG) trên ruộng lúa giảm NH3 bốc hơi (IFDC, 2003). Theo De Datta (1981), bón vùi một lần phân IBDU trên đất lúa có lượng bốc thoát NH3 rất thấp.

Các nghiên cứu trên thế giới về bốc thoát NH3 tập trung nhiều ở phân urê và urê viên nén (USG) nhưng chưa được thực hiện nghiên cứu đối với dạng phân NPK viên nén (Hayashi, 2013). Tại Việt Nam, Watanabe et al. (2009) 2 nghiên cứu NH3 bốc thoát tại các địa điểm Bắc Giang (Plinthaquults1), Hà Nội (Typic Endoaeuepts1) và Cần Thơ (Thapto Histic Sulfic Tropaquepts1) khi bón phân urê cho thấy lượng NH3 bốc thoát 1,7 - 14,6% lượng N bón. Ở ĐBSCL, có một số nghiên cứu bốc thoát NH3 trong điều kiện tưới tiết kiệm nước của Ngô Ngọc Hưng (2009a) và Dong et al.

(2012) giảm thấp hơn so với tưới ngập liên tục, tuy nhiên các tác giả chỉ nghiên cứu đối với phân urê, chưa nghiên cứu trên các dạng phân đạm cải tiến. Ngoài ra, việc tưới ngập liên tục thường được áp dụng như nghiệm thức đối chứng để so sánh với tưới khô ngập luân phiên, trong khi đó nông dân ĐBSCL thường không duy trì mực nước ngập liên tục trên ruộng mà thường dẫn nước vào ngập 7 - 10 cm sau đó khi nước rút khô, nông dân mới tưới nước. Cách quản lý nước này của nông dân làm đất thoáng khí hơn nên có thể có ảnh hưởng khác nhau đến pH nước ruộng và sự mất đạm dạng NH3. Do đó, sự bốc thoát NH3 khi bón phân urê-nBTPT, phân NPK viên nén và phân IBDU cần được nghiên cứu trong điều kiện canh tác lúa của nông dân ở ĐBSCL.

Sự phân bố của đạm NH4+ trong đất, sự thu hút đạm trong cây của các dạng phân đạm mới với kỹ thuật bón vãi và bón vùi cũng chưa được nghiên cứu ở Việt Nam làm cơ sở khoa học cho việc lý giải sự mất đạm và sự thu hút đạm bởi cây trồng so với bón urê. Đánh giá hiệu quả của bón các dạng phân đạm trên năng suất cây lúa cũng là vấn đề rất quan trọng để có thể khuyến cáo nông dân áp dụng. Theo Chien et al., (2009), bón phân urê-nBTPT cho lúa góp phần tăng hiệu quả sử dụng đạm tuy nhiên hiệu quả trên năng suất thì còn tùy thuộc vào loại đất và điều kiện canh tác. Hiệu quả của phân NPK viên nén đối với sự gia tăng năng suất lúa và giảm lượng đạm bón đã được ghi nhận trong nhiều kết quả nghiên cứu (IFDC, 2013; USAID, 2013).

Bón vùi một lần phân IBDU trên lúa làm tăng năng suất (Carreres et al. Tại Việt Nam, các thí nghiệm ở miền Bắc cho thấy phân viên nén hỗn hợp làm tăng hiệu quả sử dụng phân bón và tiết kiệm được lượng phân bón (Nguyễn Thị Lan & Đỗ Thị Hường, 2009) nhưng hiệu quả trên năng suất lúa chưa được thực hiện so sánh với phân urê. Tuy vậy, việc bón vùi loại phân NPK viên nén chưa áp dụng ở điều kiện của vùng ĐBSCL để đánh giá khả năng cung cấp đạm trong đất cho các giai đoạn sinh trưởng của lúa khi chỉ bón một lần phân NPK viên nén. Ở ĐBSCL, mới chỉ có kết quả thí nghiệm bón phân urê-nBTPT của Chu Văn Hách & Lê Văn Bảnh (2007) cho thấy hiệu quả nông học tăng 19,2 - 26% và năng suất lúa chênh lệch không đáng kể 4,9 - 7,6% so với bón phân urê.

Các nghiên cứu cho thấy hiệu quả trên năng suất lúa khi bón các dạng phân urê-nBTPT và phân NPK viên nén rất thay đổi tùy theo tính chất đất và điều kiện canh tác. Do đó, cần thực hiện nghiên cứu hiệu quả của chất ức 1 Phân loại đất theo USDA Soil Taxonomy 3 chế nBTPT và khả năng cung cấp đạm khi bón vùi phân NPK viên nén trên năng suất để khuyến cáo việc bón các dạng phân đạm cải tiến trong điều kiện canh tác lúa ở ĐBSCL. Tóm lại, nghiên cứu về ảnh hưởng của các dạng phân đạm mới như urê- nBTPT, NPK viên nén và NPK IBDU có thể có ảnh hưởng khác nhau đến sự phát thải N2O, sự mất đạm NH3 và năng suất lúa trong điều kiện tưới khô ngập luân phiên nhưng chưa được nghiên cứu nhiều, đặc biệt trong điều kiện đất ĐBSCL. Do đó rất cần thiết thực hiện nghiên cứu này làm cơ sở khoa học cho việc khuyến cáo bón các dạng phân đạm mới này trong điều kiện canh tác lúa ở ĐBSCL.2 MỤC TIÊU CỦA NGHIÊN CỨU Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá hiệu quả của việc bón các dạng phân đạm đối với sự phát thải N2O, bốc thoát NH3 và năng suất trong điều kiện canh tác lúa ở ĐBSCL.

Các mục tiêu cụ thể trong nghiên cứu cần đạt được là: 1. Đánh giá hàm lượng đạm trong nước và sự phân bố đạm trong đất giữa các dạng phân đạm theo thời gian sau các đợt bón phân cũng như sự phân bố đạm trong đất theo khoảng cách và độ sâu trong thí nghiệm đồng ruộng làm cơ sở cho việc đánh giá sự phát thải N2O, sự bốc thoát NH3 và khả năng cung cấp đạm cho cây lúa.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Hiệu quả phân đạm trên phát thải N2O, thoát NH3 và năng suất lúa tại Đồng bằng sông Cửu Long là một nghiên cứu quan trọng tập trung vào việc đánh giá tác động của việc sử dụng phân đạm trong canh tác lúa. Nghiên cứu này không chỉ phân tích hiệu quả năng suất mà còn xem xét các tác động môi trường như phát thải khí N2O và thoát NH3, hai yếu tố góp phần vào biến đổi khí hậu và ô nhiễm không khí. Kết quả nghiên cứu cung cấp những hiểu biết sâu sắc về cách tối ưu hóa việc sử dụng phân bón để đạt được năng suất cao hơn đồng thời giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường.

Để mở rộng kiến thức về các biện pháp kỹ thuật trong nông nghiệp, bạn có thể tham khảo Luận án tiến sĩ nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật bón phân cho cà phê vối, một tài liệu chuyên sâu về kỹ thuật bón phân trên đất bazan. Ngoài ra, Luận án tiến sĩ về sản xuất chè theo tiêu chuẩn nông nghiệp tốt cũng là một nguồn thông tin hữu ích để hiểu rõ hơn về các tiêu chuẩn bền vững trong nông nghiệp. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ về biện pháp kỹ thuật canh tác hồ tiêu bền vững sẽ giúp bạn khám phá thêm các phương pháp canh tác hiệu quả và thân thiện với môi trường.

Những tài liệu này không chỉ bổ sung kiến thức mà còn mở ra cơ hội để bạn hiểu sâu hơn về các giải pháp nông nghiệp bền vững. Hãy khám phá ngay để nâng cao hiểu biết của mình!