Luận án tiến sĩ thực trạng nhiễm và hiệu quả điều trị giun truyền qua đất bằng albendazol mebendazol ở trẻ từ 12 đến 23 tháng tuổi tại 3 huyện thuộc 3 tỉnh điện biên yên bái hà giang

Luận án nghiên cứu thực trạng nhiễm giun và hiệu quả điều trị bằng albendazol, mebendazol ở trẻ 12-23 tháng tại Điện Biên, Yên Bái, Hà Giang.

Trường đại học

Viện Sốt Rét - Ký Sinh Trùng - Côn Trùng Trung Ương

Chuyên ngành

Ký sinh trùng Y học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ y học

2015-2016

150
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Hiệu quả điều trị giun truyền qua đất

Nghiên cứu đánh giá hiệu quả điều trị giun truyền qua đất bằng AlbendazolMebendazol ở trẻ 12-23 tháng tại Điện Biên, Yên Bái, Hà Giang. Kết quả cho thấy cả hai loại thuốc đều có hiệu quả cao trong việc giảm tỷ lệ nhiễm giun. Albendazol đạt tỷ lệ sạch trứng 85%, trong khi Mebendazol đạt 78%. Cả hai thuốc đều an toàn, không ghi nhận tác dụng phụ nghiêm trọng.

1.1. Hiệu quả của Albendazol

Albendazol cho thấy hiệu quả vượt trội trong điều trị giun truyền qua đất. Tỷ lệ sạch trứng sau 21 ngày điều trị đạt 85%, đặc biệt ở nhóm trẻ nhiễm giun đũa. Thuốc cũng giảm đáng kể cường độ nhiễm giun, từ mức trung bình 500 trứng/gram phân xuống còn dưới 50 trứng/gram.

1.2. Hiệu quả của Mebendazol

Mebendazol cũng cho kết quả khả quan với tỷ lệ sạch trứng 78%. Thuốc hiệu quả cao trong điều trị giun tóc, giảm mật độ trứng từ 300 trứng/gram xuống còn 20 trứng/gram. Tuy nhiên, hiệu quả thấp hơn so với Albendazol trong điều trị giun đũa.

II. Thực trạng nhiễm giun truyền qua đất

Nghiên cứu xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm giun truyền qua đất ở trẻ 12-23 tháng tại Điện Biên, Yên Bái, Hà Giang. Tỷ lệ nhiễm giun đũa là 45%, giun tóc 33%, và giun móc 1%. Các yếu tố liên quan bao gồm điều kiện vệ sinh kém, thói quen ăn uống không hợp vệ sinh, và sử dụng phân tươi bón ruộng.

2.1. Tỷ lệ nhiễm giun theo địa phương

Tại Điện Biên, tỷ lệ nhiễm giun đũa cao nhất (50%), tiếp theo là Yên Bái (40%) và Hà Giang (35%). Giun tóc phổ biến hơn ở Hà Giang với tỷ lệ 38%. Giun móc chỉ xuất hiện ở Điện Biên với tỷ lệ 1%.

2.2. Yếu tố nguy cơ

Các yếu tố nguy cơ chính bao gồm thiếu nhà tiêu hợp vệ sinh (70% hộ gia đình), thói quen nghịch đất của trẻ (60%), và sử dụng phân tươi bón ruộng (50%). Những yếu tố này góp phần làm tăng tỷ lệ nhiễm giun ở trẻ nhỏ.

III. Phòng chống giun sán

Nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của phòng chống giun sán trong cộng đồng. Các biện pháp bao gồm cải thiện vệ sinh môi trường, giáo dục sức khỏe, và tẩy giun định kỳ. Điều trị cộng đồng bằng AlbendazolMebendazol được khuyến nghị để giảm gánh nặng bệnh tật.

3.1. Cải thiện vệ sinh môi trường

Xây dựng nhà tiêu hợp vệ sinh và xử lý phân đúng cách là biện pháp hiệu quả để giảm tỷ lệ nhiễm giun. Nghiên cứu cho thấy 80% hộ gia đình có nhà tiêu hợp vệ sinh giảm đáng kể tỷ lệ nhiễm giun.

3.2. Giáo dục sức khỏe

Truyền thông giáo dục về vệ sinh cá nhân và ăn uống hợp vệ sinh giúp nâng cao nhận thức cộng đồng. Các chương trình giáo dục đã giảm 30% tỷ lệ nhiễm giun ở trẻ em sau 6 tháng.

IV. Tính thực tiễn và khoa học

Nghiên cứu có giá trị thực tiễn cao, cung cấp dữ liệu quan trọng về hiệu quả điều trịthực trạng nhiễm giun ở trẻ 12-23 tháng tại các tỉnh miền núi phía Bắc. Kết quả nghiên cứu là cơ sở để xây dựng chính sách phòng chống giun sán hiệu quả, đặc biệt ở các vùng có điều kiện kinh tế khó khăn.

4.1. Ứng dụng trong y tế cộng đồng

Nghiên cứu khuyến nghị sử dụng AlbendazolMebendazol trong các chương trình tẩy giun định kỳ cho trẻ dưới 2 tuổi. Điều này giúp giảm tỷ lệ nhiễm giun và cải thiện sức khỏe trẻ em.

4.2. Đóng góp khoa học

Nghiên cứu bổ sung dữ liệu về hiệu quả và tính an toàn của thuốc tẩy giun ở nhóm trẻ nhỏ, một nhóm tuổi chưa được nghiên cứu nhiều trước đây. Kết quả nghiên cứu đã được công bố trên các tạp chí khoa học uy tín.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ thực trạng nhiễm và hiệu quả điều trị giun truyền qua đất bằng albendazol mebendazol ở trẻ từ 12 đến 23 tháng tuổi tại 3 huyện thuộc 3 tỉnh điện biên yên bái hà giang

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đại cương về giun truyền qua đất Theo Tổ chức Y tế Thế giới, GTQĐ là thuật ngữ dùng để chỉ một nhóm giun tròn đường ruột có đặc điểm chung là trong chu kỳ bắt buộc phải có giai đoạn trứng phát triển ngoài môi trường đất trở thành trứng có ấu trùng, sau đó chính trứng có ấu trùng mới có khả năng lây nhiễm cho con người qua thức ăn, nước uống (ô nhiễm từ môi trường đất). Các loài GTQĐ bao gồm (Ascaris lumbricoides), giun tóc (Trichuris trichiura), giun móc/giun mỏ (Ancylostoma duodenale/Necator americanus) [1]. GTQĐ được Tổ chức Y tế Thế giới xem là một vấn đề sức khoẻ y tế cộng đồng do phổ phân bố rộng trên toàn thế giới, đặc biệt, ở các nước đang phát triển tỷ lệ nhiễm GTQĐ rất cao.

Hậu quả do GTQĐ gây ra thường âm thầm, mạn tính. Đối với trẻ nhỏ, nhiễm GTQĐ lâu dài sẽ có ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất và tinh thần. Chính vì vậy, giảm gánh nặng bệnh tật do GTQĐ gây nên ở nhóm trẻ từ 1-5 tuổi là một trong những mục tiêu được TCYTTG quan tâm hàng đầu [11]. Đặc điểm sinh học của các loại giun truyền qua đất 1.Giun đũa (Ascaris lumbricoides) - Đặc điểm hình thể Giun đũa thuộc lớp giun tròn Nematoda, họ Ascarididae Đây là một loại giun lớn, có hình thể dài và to như chiếc đũa.

Con cái dài từ 20-25cm, con đực dài từ 15-20cm. Giun đũa có màu hồng nhạt hay màu trắng sữa. Giun đũa đực và giun đũa cái trưởng thành cùng sống ký sinh ở phần đầu ruột non. Trứng giun đũa hình bầu dục hoặc hình tròn kích thước chiều dài 45- 75m, chiều ngang 35-50 m.

Trứng có lớp vỏ albumin ngoài cùng xù xì có tác dụng bảo vệ trứng và trong cùng là khối nhân [2]. Giun đũa trưởng thành Hình 1. Trứng giun đũa (Nguồn trích dẫn http://cdc.gov/parasites/Ascariasis) [12] - Chu kỳ phát triển Giun đũa trưởng thành sống ở ruột non của người. Giun đũa đực và cái trưởng thành giao hợp và đẻ trứng.

Mỗi ngày con cái có thể đẻ từ 20-25 vạn trứng. Trứng giun đũa đã thụ tinh theo phân ra ngoài gặp điều kiện thuận lợi của ngoại cảnh sẽ phát triển thành trứng có ấu trùng và chỉ có trứng này mới có khả năng gây nhiễm bệnh cho người. Khi người ăn phải trứng có ấu trùng, trứng sẽ từ miệng theo đường tiêu hóa xuống dạ dày. Khi vào ruột non ấu trùng thoát khỏi vỏ trứng (giai đoạn I) và chui qua các mao mạch ở ruột vào tĩnh mạch treo để đi về gan (từ 3-7 ngày) phát triển thành ấu trùng giai đoạn II.

Ấu trùng giai đoạn II theo máu vào tĩnh mạch chủ, rồi vào tim phải. Từ tim phải ấu trùng theo động mạch phổi để tới phổi phát triển thành ấu trùng giai đoạn III, IV trong 10-15 ngày. Sau đó ấu trùng theo hệ thống khí quản lên hầu họng, rồi theo thực quản xuống bộ máy tiêu hóa để trở thành giun đũa trưởng thành và ký sinh ở ruột non. Quá trình từ khi người ăn phải trứng giun đũa có ấu trùng đến khi phát triển thành giun đũa trưởng thành ở ruột non, để có thể đẻ trứng được là khoảng 60 ngày.

Giun đũa có thể sống trong ruột từ 10-13 tháng [2]. Chu kỳ của giun đũa Ascaris lumbricoides (Nguồn trích dẫn http://cdc.gov/parasites/Ascariasis) [12] Chú thích chu kì: (1) Giun đũa trưởng thành sống trong ruột non của người. (2) Trứng giun đũa theo phân ra môi trường (3) Trứng giun đũa thụ tinh phát triển thành trứng có ấu trùng (4) Người ăn phải trứng có ấu trùng (5) Ấu trùng thoát vỏ thành ấu trùng giai đoạn I (6) Ấu trùng theo máu tĩnh mạch về tim sau đó lên phổi phát triển thành ấu trùng giai đoạn IV (7) Ấu trùng giai đoạn IV lên hầu họng và theo thực quản xuống bộ máy tiêu hoá để thành giun trưởng thành. Giun tóc (Trichuris trichiura) - Đặc điểm hình thể Giun tóc thuộc lớp giun tròn Nematoda, họ Trichuridae 6 Giun tóc là loài giun nhỏ dài có phần đầu mảnh và nhỏ như sợi tóc, phần đuôi phình to, thân màu hồng nhạt.

Con cái dài từ 30-50mm, con đực dài từ 30- 45mm. Phân biệt giun tóc đực và giun tóc cái dựa vào phần đuôi: đuôi giun cái thẳng, đuôi giun đực uốn cong, cuối đuôi giun đực có gai sinh dục. Miệng giun tóc không có môi, thực quản chạy suốt phần đầu, có rất nhiều tuyến tiết hủy hoại tổ chức. Bộ phận sinh dục của giun đực, giun cái đều hình ống, lỗ sinh dục ở chỗ tiếp giáp phần đầu và phần đuôi.

Vị trí ký sinh: giun tóc thường ký sinh ở đại tràng và manh tràng đôi khi ở ruột thừa. Khi ký sinh giun cắm phần đầu vào thành ruột để hút máu phần đuôi ở trong lòng ruột. Trứng giun tóc có hình thể đặc biệt giống như quả cau, vỏ dầy, hai đầu có hai nút nhầy trong suốt, màu vàng đậm, kích thước 22 x 50 m [2]. Giun tóc trưởng thành Hình 1.

Trứng giun tóc (Nguồn trích dẫn http://cdc.gov/parasites/whipworm) [13] - Chu kỳ phát triển Vòng đời của giun tóc rất đơn giản. Giun tóc cái trưởng thành có thể đẻ 3.000 trứng mỗi ngày. Trứng theo phân ra ngoại cảnh gặp điều kiện thích hợp (nhiệt độ 25-300C, ẩm, ô xy) phát triển thành trứng có ấu trùng và có khả năng lây nhiễm trong khoảng thời gian từ 17-30 ngày. Khi người nuốt phải trứng có ấu trùng vào trong ruột, ấu trùng thoát vỏ ở ruột non, rồi đi dần xuống đại tràng, manh tràng, phát triển thành giun trưởng thành ở đó.

Thời gian từ khi nhiễm phải trứng tới khi giun tóc bắt đầu đẻ trứng 7 khoảng một tháng. Giun tóc trưởng thành sống trong ruột người khoảng 5 - 6 năm [2]. Chu kỳ của giun tóc Trichuris trichiura (Nguồn trích dẫn http://cdc.gov/parasites/whipworm) [13]. Chú thích chu kì: (1) Trứng giun tóc theo phân ra môi trường (2) Trứng giun tóc phát triển thành trứng có 2 tế bào (3) Trứng giun tóc phát triển sang giai đoạn phôi dâu (4) Người ăn phải trứng có ấu trùng (5) Ấu trùng thoát vỏ thành ở ruột non thành giun tóc trưởng thành 1.3 Giun móc/mỏ (Ancylostoma duodenale/Necator americanus) - Đặc điểm hình thể Giun móc/mỏ thuộc lớp giun tròn Nematoda, họ Ancylostomatidae Hình thể: Giun móc Ancylostoma duodenale là loại giun có kích thước nhỏ, giun cái dài 10-13mm, giun đực dài 8-11mm.

Đầu có bao miệng phình và cong, bờ trên của miệng có 2 đôi răng hình móc, bố trí cân đối, mỗi bên 1 đôi; 8 bờ dưới của miệng là các bao cứng giúp giun móc ngoạm chặt vào niêm mạc ruột để hút máu. Giun mỏ Necator americanus nhìn đại thể khó phân biệt với giun móc nhưng vẫn có điểm khác biệt như: giun mỏ nhỏ và ngắn hơn; giun mỏ không có hai đôi móc mà miệng không có móc mà là hai đôi răng hình bán nguyệt sắc bén. Trứng giun móc/mỏ hình trái xoan, có kích thước 40 x 60 m, ngoài là lớp vỏ mỏng nhẵn, không màu bên trong chứa nhân. Một số tác giả cho rằng trứng giun mỏ có 4-8 nhân trong khi trứng giun móc có từ 2-4 nhân.

Giun móc mỏ ký sinh ở tá tràng và phần đầu ruột non. Giun bám vào niêm mạc ruột để hút máu đồng thời tiết ra chất chống đông làm chảy máu tại nơi tổn thương [2]. Miệng giun móc Hình 1. Miệng giun mỏ Hình 1.

Trứng giun móc (Nguồn trích dẫn http://cdc.gov/parasites/hookworm) [14] - Chu kỳ phát triển Sau khi giao hợp, giun cái đẻ trứng ở ruột non, trứng theo phân ra ngoài. Mỗi ngày, một con giun móc/mỏ cái có thể đẻ khoảng 30.000 trứng và một con giun mỏ cái có thể đẻ khoảng 9. Trứng được bài xuất ra ngoại cảnh theo phân. Trong điều kiện thuận lợi (đủ độ ẩm, đủ ô-xy, nhiệt độ từ 25-350C), trứng nở thành ấu trùng trong 2-3 ngày (ấu trùng giai đoạn I).

Sau 5-10 ngày với 2 lần thoát vỏ, ấu trùng phát triển thành ấu trùng giai đoạn III, là ấu trùng có khả năng xâm nhập qua da hoặc niêm mạc vật chủ. Những ấu trùng này có 9 thể sống 3-4 tuần trong điều kiện khí hậu thuận lợi và có tính hướng động tới vật chủ. Khi tiếp xúc với vật chủ là người, ấu trùng chui qua da và theo tĩnh mạch về tim phải. Ấu trùng theo đường động mạch phổi lên phổi.

Tại đây, ấu trùng thay áo 2 lần nữa để thành ấu trùng giai đoạn IV và V rồi qua khí phế quản lên hầu, xuống dạ dày, ruột và phát triển thành giun trưởng thành. Giun trưởng thành bám vào thành tá tràng và phần đầu ruột non để hút máu và gây mất máu mãn tính ở vật chủ. Thời gian để hoàn thành một vòng đời của giun móc/mỏ mất khoảng 6 - 8 tuần. Giun móc có tuổi thọ 4 - 5 năm, giun mỏ khoảng 10 - 15 năm [2].

Ngoài ra các ấu trùng giun móc/mỏ còn có thể lây nhiễm qua đường thức ăn hoặc nước uống sau đó xuống ruột mà không có giai đoạn chu du trong cơ thể. Trường hợp này chúng không di chuyển qua phổi mà ký sinh ở ruột. Tuy nhiên, một số ấu trùng ngừng phát triển mà ở trong trạng thái tiềm tàng trong các tổ chức với thời gian kéo dài trong khoảng 8 tháng trước khi phát triển thành giun trưởng thành. Chú thích chu kỳ: (1): Trứng giun móc/mỏ đào thải qua phân ra môi trường.

(2): Trứng phát triển thành ấu trùng giai đoạn I (3): Trứng phát triển thành ấu trùng giai đoạn III. (4): Ấu trùng giai đoạn III xâm nhập qua da (5): Ấu trùng theo tĩnh mạch về tim phải rồi theo động mạch phổi về phổi thay áo thành ấu trùng giai đoạn IV, V. Ấu trùng giai đoạn V lên hầu họng và được nuốt xuống dạ dày, ruột và phát triển thành giun trưởng thành sống ở ruột non. Chu kỳ phát triển của giun móc/mỏ (Nguồn trích dẫn http://cdc.gov/parasites/hookworm) [14] 1.

Hậu quả khi nhiễm giun truyền qua đất Bệnh GTQĐ được TCYTTG cho là vấn đề y tế công cộng ở nhiều nơi trên thế giới nhất là những vùng có khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới do tính chất phổ biến và những hậu quả do nó gây ra. Bệnh gặp ở mọi lứa tuổi và gây ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển thể chất, tinh thần, đặc biệt là đối với trẻ em. Giun sống trong ruột và số lượng nhân lên thông qua sự lặp lại của vòng tuần hoàn. Việc trẻ em bị nhiễm cùng một lúc nhiều loại giun là rất phổ biến.

Các loại giun sống trong ruột của trẻ có thể gây suy dinh dưỡng do giun lấy thức ăn của cơ thể qua đó làm giảm sự thèm ăn dẫn tới trẻ ăn ít đi hoặc cản trở sự hấp thu dinh dưỡng từ thức ăn trẻ tiêu thụ gây giảm hấp thu các chất dinh dưỡng cần thiết.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Hiệu quả điều trị giun truyền qua đất bằng Albendazol và Mebendazol ở trẻ 12-23 tháng tại Điện Biên, Yên Bái, Hà Giang là một nghiên cứu quan trọng tập trung vào việc đánh giá hiệu quả của hai loại thuốc phổ biến trong điều trị giun sán ở trẻ nhỏ. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp dữ liệu về tỷ lệ thành công của Albendazol và Mebendazol mà còn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc điều trị giun sán đối với sức khỏe và sự phát triển của trẻ em tại các vùng nông thôn, miền núi. Đây là nguồn thông tin hữu ích cho các nhà nghiên cứu, bác sĩ và cộng đồng quan tâm đến sức khỏe trẻ em và bệnh ký sinh trùng.

Để mở rộng kiến thức về các bệnh ký sinh trùng và tác động của chúng đến sức khỏe cộng đồng, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn nghiên cứu tỷ lệ nhiễm ba bệnh ký sinh trùng truyền lây giữa động vật và người tại huyện bắc yên tỉnh sơn la. Ngoài ra, nếu quan tâm đến các vấn đề sức khỏe liên quan đến dinh dưỡng và phát triển ở trẻ em, Luận văn thực trạng suy dinh dưỡng thể thấp còi ở trẻ em từ 25 đến 60 tháng và một số yếu tố liên quan tại hai xã vùng cao tỉnh lào cai cũng là một tài liệu đáng đọc. Cuối cùng, để hiểu rõ hơn về các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến sức khỏe, bạn có thể khám phá Luận văn dự báo tác động của ô nhiễm không khí đến sức khỏe cộng đồng trung tâm điện lực duyên hải trà vinh. Mỗi tài liệu này đều mang đến góc nhìn sâu sắc và bổ sung kiến thức liên quan đến chủ đề bạn đang quan tâm.