Phần mở đầu Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận hiệu quả đầu tư ứng dụng công nghệ Chƣơng 2: Phương pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Phân tích hiện trạng đầu tư ứng dụng công nghệ tại EVNNPT Chƣơng 4: Phân tích nguyên nhân, yếu tố ảnh hưởng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư ứng dụng công nghệ tại EVNNPT Kết luận 4 z CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƢ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Trong những năm gần đây, nhiều sách, đề tài, tạp chí khoa học đề cập đến lĩnh vực phân tích hiệu quả đầu tư dự án nói chung và đầu tư phát triển, ứng dụng công nghệ. Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu của các vấn đề này khá rộng và chưa có nghiên cứu nào đánh giá hiệu quả đầu tư phát triển và ứng dụng công nghệ cho lưới điện truyền tải. Một số công trình, đề tài, tạp chí đã nghiên cứu liên quan đến đầu tư phát triển công nghệ: - Nguyễn Thành Độ, 2012.
Giáo trình Quản lý công nghệ. Hà nội: NXB. Đại học Kinh tế Quốc dân. - Hoàng Đinh Phi, 2012.
Giáo trình Quản trị công nghệ. Hà Nội: NXB. Đại học Quốc gia Hà Nội. - Bộ sách về đánh giá công nghệ gồm 6 cuốn do Trung tâm Thông tin Tư liệu Khoa học và Công nghệ Quốc gia thuộc Bộ Khoa học, Công Nghệ và Môi trường phối hợp với Trung tâm Thông tin Khoa học Kỹ thuật Hóa chất phát hành năm 1997 và được dịch từ nguyên bản tiếng Anh “A Frame work for technology - Based development” do United Nations Economic and Social Commission for Asia and the Pacific - UN-ESCAP (Uỷ ban Kinh tế và Xã hội Châu Á Thái Bình Dương của Liên hợp quốc), gồm: Tập 1.
Nguyên lý phát triển dựa trên công nghệ. Đánh giá hàm lượng công nghệ. Đánh giá môi trường công nghệ. Đánh giá trình độ công nghệ.
Đánh giá năng lực công nghệ. Đánh giá nhu cầu công nghệ. - Ngô Quang Duy và Lê Thanh Hải, 2014. Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động của ba phương thức xử lý chất thải rắn đô thị tại các khu liên hiệp xử lý chất thải rắn Tây Bắc, Củ Chi.
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ, tập 17, số M1- 2014. Từ nhu cầu thực tiễn, nghiên cứu đã xây dựng bộ tiêu chí cụ thể để đánh giá hiệu quả hoạt động của công nghệ làm phân compost, công nghệ đốt, công nghệ chôn lấp hợp vệ sinh. Kết quả áp dụng bộ tiêu chí này (áp dụng đánh giá điển hình tại 3 doanh nghiệp tại khu liên hiệp xử lý chất thải rắn Tây Bắc, Củ Chi) cho thấy sự hợp lý, hiệu quả, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả xử lý, cải tiến và hoàn thiện các công nghệ xử lý chất thải rắn đô thị. - Phan Thị Thuỷ Tiên (2013).
Nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ trong ngành Điện.vn/tin-tuc/t85/nghien-cuu-ung-dung- khoa-hoc-cong-nghe-trong-nganh-dien. - Trần Thị Mai, 2014. Xây dựng tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động thông tin khoa học tại Học viện Quân y. Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội.
Luận văn xây dựng tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động về mặt tài chính và kinh tế để nhận dạng chất lượng và hiệu quả cho hoạt động thông tin khoa học. Các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động thông tin khoa học gồm các tiêu chí hiệu quả về các mặt kinh tế, xã hội, kỹ thuật, tính bền vững. - Veselov Fedor and Fedosova Alina (2015). Cost - benefit estimation of the Smart grid development for Rusian unified power system.
Russia: National Research University Higher School of Economics. Các tác giả đề cập đến các đánh giá, phân tích chi phí - lợi ích của vấn đề liên quan đến lưới điện thông minh. Những đặc điểm mới của hệ thống điện thông minh được xem xét và những bất cập của phương pháp truyền thống về đánh giá chi phí - lợi ích được nghiên cứu, trong đó, những yếu tố bên ngoài được đánh giá, phân tích. Bài báo cũng đã hệ thống hóa các phương pháp hiện tại để đánh giá lưới điện thông minh và chỉ ra các yếu điểm 6 z của các phương pháp này.
Một cách tiếp cận mới về đánh giá chi phí - lợi ích của lưới điện thông minh dựa trên việc nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng của lưới điện thông minh đến hệ thống điện. Phương pháp này được áp dụng để đánh giá các ảnh hưởng mang tính hệ thống của hệ thống điện thông minh và đang được triển khai lĩnh vực thuộc hệ thống năng lượng của nước Nga. - Công ty PPA Energy (UK) và Viện Năng lượng (Việt Nam), 2014. Lập kế hoạch tài chính và đầu tư trong truyền tải điện do Ngân hàng Thế giới tài trợ.
Đây là một hỗ trợ kỹ thuật do Ngân hàng Thế giới tài trợ với nhiệm vụ: Rà soát quy trình kế hoạch và tài chính của EVNNPT; Tổ chức hội thảo và các bài học kinh nghiệm xây dựng qui trình kế hoạch và tài chính; Xây dựng phương pháp luận và mô hình phân tích kinh tế tài chính các dự án lưới điện truyền tải theo các tiêu chuẩn của tổ chức cho vay. Cơ sở lý luận về đầu tƣ ứng dụng công nghệ 1. Khái niệm về công nghệ Thuật ngữ công nghệ được sử dụng trong rất nhiều ngữ cảnh khác nhau của tiếng Việt hiện tại nhưng quan niệm về công nghệ lại khác nhau. Có hai quan niệm đối lập: một quan niệm cho rằng công nghệ chỉ bao gồm các yếu tố phi vật thể như bí quyết, kỹ thuật, giải pháp.
quan niệm thứ hai cho rằng ngoài các yếu tố phi vật thể công nghệ còn bao gồm cả các yếu tố vật thể là máy móc thiết bị để thực hiện phần phi vật thể. Sự đối lập này dẫn đến mục tiêu và hoạt động quản lý công nghệ cũng có phạm vi khác nhau. Dưới đây sẽ hệ thống hóa các quan niệm từ các nguồn khác nhau. Xét về mặt ngôn ngữ thuật ngữ công nghệ, theo chiết nghĩa trong tiếng Việt có nghĩa là nghệ thuật sử dụng công cụ.
Từ điển Bách khoa tiếng Việt định nghĩa công nghệ là sự áp dụng khoa học vào trong thực tế để tạo ra sản phẩm và dịch vụ. Thuật ngữ “công nghệ” trong các ngôn ngữ khác như tiếng Anh (technology), tiếng Pháp (technologie), tiếng Nga đều có nguồn gốc từ thuật ngữ tiếng Hy Lạp bao gồm hai gốc từ là kỹ năng hay kỹ thuật và logos có nghĩa là khoa học hay sự nghiên cứu. 7 z Như vậy thuật ngữ này được hiểu là khoa học về kỹ thuật hay sự nghiên cứu có hệ thống về kỹ thuật - thường được gọi là công nghệ học. Ở Việt Nam, cho đến thời gian gần đây công nghệ thường được hiểu là quá tình tiến hành một công đoạn sản xuất, là thiết bị để thực hiện một công việc (do đó công nghệ thường là tính từ của cụm thuật ngữ như: quy trình công nghệ, thiết bị công nghệ, dây chuyền công nghệ).
Cách hiểu này có xuất xứ từ định nghĩa trong từ điển kỹ thuật của Liên Xô trước đây: “Công nghệ là tập hợp các phương pháp gia công, chế tạo, làm thay đổi trạng thái, tính chất, hình dáng nguyên vật liệu hay bán thành phẩm sử dụng trong quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm hoàn chỉnh”. Theo những quan niệm này, công nghệ chỉ liên quan đến sản xuất vật chất. Từ những năm 60 của thế kỷ XX, khởi đầu từ Mỹ rồi Tây Âu đã sử dụng thuật ngữ công nghệ để chỉ các hoạt động ở mọi lĩnh vực, các hoạt động này áp dụng những kiến thức là kết quả của nghiên cứu khoa học ứng dụng - một sự phát triển của khoa học trong thực tiễn nhằm mang lại hiệu quả cao hơn trong hoạt động của con người. Quan niệm mới về công nghệ này dần dần được chấp nhận rộng rãi trên thế giới, chẳng hạn, ở việc thay đổi tên gọi của các tạp chí lớn trên thế giới, như “Tạp chí Khoa học và Kỹ thuật - Science et Technique" đổi thành “Khoa học và Công nghệ” - Science et Technogie.
Ở Việt Nam, thuật ngữ công nghệ theo nghĩa rộng đã được sử dụng chính thức ở nước ta từ khi có nghị quyết số 26 của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá VII mang tên “Nghị quyết về phát triển khoa học và công nghệ trong sự nghiệp đổi mới”. Năm 1992, Uỷ ban Khoa học - Kỹ thuật Nhà nước đổi thành Bộ Khoa học - Công nghệ và Môi trường (nay là Bộ Khoa học và Công nghệ). Các tổ chức quốc tế về khoa học và công nghệ đã có nhiều cố gắng trong việc đưa ra một định nghĩa công nghệ có thể dung hoà các quan điểm, đồng thời tạo thuận lợi cho việc phát triển và hoà nhập của các quốc gia trong từng khu vực và trên phạm vi toàn cầu. 8 z Có bốn khía cạnh cần bao quát trong định nghĩa công nghệ đó: - Công nghệ là bộ biến đổi.
- Công nghệ là công cụ. - Công nghệ là kiến thức. - Công nghệ hàm chứa trong các dạng hiện thân của nó. Khía cạnh thứ nhất đề cập đến khả năng làm ra sản phẩm, đồng thời công nghệ phải đáp ứng mục tiêu khi sử dụng và thoả mãn yêu cầu về mặt kinh tế nếu nó muốn được áp dụng trên thực tế.
Đây là điểm khác biệt giữa khoa học và công nghệ. Khía cạnh thứ hai là nhấn mạnh rằng công nghệ là một sản phẩm của con người, do đó con người có thể làm chủ được nó vì nó hoàn toàn không phải là “Cái hộp đen” huyền bí đối với các nưức đang phát triển. Vì là một công cụ nên công nghệ có mối quan hệ chặt chẽ với con người và cơ cấu tổ chức. Khía cạnh kiến thức của công nghệ đề cập đến cốt lõi của mọi hoạt động công nghệ là kiến thức.
Nó bác bỏ quan niệm công nghệ phải là các vật thể, phải nhìn thấy được. Đặc trưng kiến thức khẳng định vai trò dẫn đường của khoa học đối với công nghệ, đồng thời nhấn mạnh rằng không phải ở các quốc gia có các công nghệ giống nhau sẽ đạt được kết quả như nhau. Việc sử dụng một công nghệ đòi hỏi con người cần phải được đào tạo về kỹ năng, trang bị kiến thức và phải luôn cập nhật những kiến thức đó. Khía cạnh thứ tư đề cập đến vấn đề mặc dù công nghệ là kiến thức song vẫn có thể được mua, được bán.
Đó là do công nghệ hàm chứa trong các vật thể tạo nên nó.