Hiện Trạng và Hiệu Quả Đánh Bắt, Nuôi Trồng Thủy Sản Mùa Nước Nổi Tại An Giang Giai Đoạn 2003-2005

Nghiên cứu hiện trạng và hiệu quả đánh bắt, nuôi trồng thủy sản mùa nước nổi tại An Giang giai đoạn 2003-2005, ảnh hưởng đến đời sống cộng đồng.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Đề tài nghiên cứu khoa học

2005 - 2006

190
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Hiệu Quả Đánh Bắt và Nuôi Trồng Thủy Sản Tại An Giang

Nghiên cứu về hiệu quả đánh bắt và nuôi trồng thủy sản tại An Giang giai đoạn 2003-2005 cho thấy sự phát triển mạnh mẽ của ngành này. An Giang, với vị trí địa lý thuận lợi và nguồn nước phong phú, đã trở thành một trong những trung tâm nuôi trồng thủy sản lớn của miền Tây Nam Bộ. Mô hình nuôi trồng và đánh bắt thủy sản không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong nước mà còn xuất khẩu ra thị trường quốc tế. Tuy nhiên, việc khai thác tài nguyên này cũng đặt ra nhiều thách thức về môi trường và bền vững.

1.1. Đặc Điểm Tự Nhiên và Kinh Tế An Giang

An Giang nằm ở đầu nguồn sông Cửu Long, với hệ thống sông ngòi dày đặc. Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho nuôi trồng thủy sản. Tỉnh có diện tích mặt nước lớn, giúp phát triển các mô hình nuôi cá, tôm và các loại thủy sản khác. Kinh tế An Giang chủ yếu dựa vào nông nghiệp, trong đó thủy sản đóng vai trò quan trọng.

1.2. Lịch Sử Phát Triển Ngành Thủy Sản Tại An Giang

Ngành thủy sản tại An Giang đã hình thành từ những năm 60 của thế kỷ XX. Qua thời gian, các mô hình nuôi trồng đã được cải tiến và phát triển đa dạng. Hiện nay, An Giang có nhiều loại hình nuôi trồng như nuôi bè, nuôi ao hầm, và nuôi đăng quần, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường.

II. Thách Thức Trong Việc Đánh Bắt và Nuôi Trồng Thủy Sản Mùa Nước Nổi

Mùa nước nổi mang lại nhiều cơ hội nhưng cũng không ít thách thức cho đánh bắt thủy sản. Sự biến đổi khí hậu và ô nhiễm môi trường đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến nguồn lợi thủy sản. Bên cạnh đó, việc quản lý tài nguyên nước và bảo vệ môi trường cũng là vấn đề cần được quan tâm.

2.1. Tác Động Của Biến Đổi Khí Hậu

Biến đổi khí hậu đã làm thay đổi dòng chảy và chất lượng nước, ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của thủy sản. Nhiều loài cá và tôm đang gặp khó khăn trong việc sinh sản và phát triển, dẫn đến giảm sản lượng đánh bắt.

2.2. Ô Nhiễm Môi Trường và Tài Nguyên Nước

Ô nhiễm từ hoạt động sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt đã làm giảm chất lượng nước. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân mà còn làm giảm năng suất nuôi trồng thủy sản. Cần có các biện pháp bảo vệ môi trường hiệu quả hơn.

III. Phương Pháp Nuôi Trồng Thủy Sản Hiệu Quả Tại An Giang

Để nâng cao hiệu quả nuôi trồng thủy sản, các phương pháp hiện đại đã được áp dụng. Việc sử dụng công nghệ mới trong quản lý ao nuôi và cải tiến kỹ thuật nuôi trồng đã giúp tăng năng suất và chất lượng sản phẩm. Các mô hình nuôi trồng bền vững cũng đang được khuyến khích.

3.1. Ứng Dụng Công Nghệ Mới Trong Nuôi Trồng

Công nghệ nuôi trồng hiện đại như hệ thống tuần hoàn nước và tự động hóa trong quản lý ao nuôi đã giúp tiết kiệm chi phí và tăng năng suất. Việc áp dụng các biện pháp sinh học trong quản lý dịch bệnh cũng đã mang lại hiệu quả cao.

3.2. Mô Hình Nuôi Trồng Bền Vững

Các mô hình nuôi trồng bền vững như nuôi kết hợp nông - thủy sản đang được khuyến khích. Mô hình này không chỉ giúp tăng thu nhập cho người dân mà còn bảo vệ môi trường và tài nguyên nước.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Về Hiệu Quả Kinh Tế Từ Nuôi Trồng Thủy Sản

Nghiên cứu cho thấy hiệu quả kinh tế từ nuôi trồng thủy sản tại An Giang là rất đáng kể. Sản lượng cá nuôi và tôm đã tăng mạnh trong giai đoạn 2003-2005, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân. Tuy nhiên, cần có các chính sách hỗ trợ để duy trì và phát triển bền vững ngành này.

4.1. Tăng Trưởng Sản Lượng Thủy Sản

Sản lượng cá nuôi đạt khoảng 90,3 ngàn tấn, tăng 50,5% so với năm trước. Điều này cho thấy tiềm năng phát triển của ngành thủy sản tại An Giang là rất lớn.

4.2. Tác Động Đến Cuộc Sống Cộng Đồng

Ngành thủy sản đã tạo ra hàng ngàn việc làm cho người dân địa phương. Nguồn thu nhập từ nuôi trồng thủy sản đã giúp cải thiện đời sống và an sinh xã hội cho cộng đồng dân cư vùng ngập lũ.

V. Kết Luận và Hướng Phát Triển Tương Lai Cho Ngành Thủy Sản

Ngành thủy sản tại An Giang cần được phát triển bền vững để đảm bảo lợi ích cho người dân và bảo vệ môi trường. Các chính sách hỗ trợ và đầu tư vào công nghệ mới sẽ là chìa khóa cho sự phát triển trong tương lai. Cần có sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng và cộng đồng để đạt được mục tiêu này.

5.1. Đề Xuất Chính Sách Hỗ Trợ

Cần có các chính sách hỗ trợ cho người dân trong việc tiếp cận công nghệ mới và cải tiến kỹ thuật nuôi trồng. Điều này sẽ giúp nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm thủy sản.

5.2. Tăng Cường Quản Lý Tài Nguyên Nước

Quản lý tài nguyên nước hiệu quả là rất quan trọng để bảo vệ môi trường và duy trì nguồn lợi thủy sản. Cần có các biện pháp bảo vệ môi trường và khôi phục hệ sinh thái nước.

15/07/2025
Hiện trạng và hiệu quả việc đánh bắt và nuôi trồng thủy sản mùa nước nổi đối với đời sống của cộng đồng dân cư tỉnh an giang giai đoạn 2003 2005 đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên 2

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN – KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH AN GIANG 1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN An Giang là tỉnh thượng nguồn của sông Mekong đổ vào đồng bằng sông Cửu Long. Diện tích tự nhiên là 3406,2 km2 chiếm 1,03% diện tích cả nước và 8,58% diện tích vùng đồng bằng sông Cửu Long (đứng thứ 4 đồng bằng sông Cửu Long). Bao gồm một phần đất sông Tiền và sông Hậu (và 4 huyện Cù Lao), một phần chạy dọc hữu ngạn sông Hậu theo hướng tây Nam của châu thổ sông Cửu Long (bao gồm cả tứ giác Long Xuyên).

Cơ cấu diện tích đất được chia ra như sau: Diện tích đất rừng :118 km2 Diện tích đất canh tác: 2562km2 Diện tích đất cư trú: 198km2 Diện tích đất chuyên dùng: 269 km2 Tỉnh An Giang phân thành 11 đơn vị hành chính trực thuộc : 2 trung tâm chính trị-kinh tế-xã hội- khoa học kĩ thuật và 9 huyện lỵ. Hai trung tâm là thành phố Long Xuyên - thủ phủ của tỉnh An Giang (3.14% diện tích tỉnh) nằm ở phía Đông Nam của tỉnh với biểu tượng bông lúa- thế mạnh nông nghiệp của tỉnh; thị xã Châu Đốc (2,95% diện tích tỉnh) nằm ở Tây Bắc của tỉnh với biểu tượng cá basa- thế mạnh thuỷ sản và là trung tâm thương mại, du lịch biên giới của tỉnh. Chín huyện lỵ: Châu Thành, Chợ Mới, Châu Phú, Thoại Sơn, Phú Tân, Tân Châu, An Phú, Tri Tôn, Tịnh Biên. Với hơn 140 đơn vị phường xã, thị trấn.Vị trí địa lý 14 Giới hạn lãnh thổ: An Giang nằm từ vĩ độ 10010’30’’B đến 10037’50’’B và từ kinh độ 104047’20’’Đ đến 105035’10’’Đ.

Ranh giới hành chánh của tỉnh : Hướng Đông giáp tỉnh Đồng Tháp (107.628km ranh giới) Hướng Tây Nam giáp tỉnh Kiên Giang (69.789km ranh giới) Huớng Đông Nam giáp thành phố Cần Thơ (44.734 km ranh giới) Hướng Tây Bắc giáp Vương Quốc Cambodia (97kmđường biên giới ) Là tỉnh thượng nguồn của đồng bằng sông Cửu Long nên An Giang đón nhận lũ trực tiếp từ Cambodia tràn vào Việt Nam và là tỉnh ngập lũ đầu tiên của lũ Đồng Bằng sông Cửu Long. An Giang có hệ thống các đường giao thông thủy, bộ khá thuận tiện và vị trí địa lý tạo ra tầm quan trọng của giao thông liên vùng và đặc biệt là giao thông quốc tế giữa Việt Nam và Cambodia, thông qua các cửa khẩu quốc tế: Cửa khẩu Tịnh Biên, cửa khẩu Vĩnh Xương và cửa khẩu Khánh Bình.Khí hậu An Giang nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa với hai hướng chính Đông Bắc(tháng 11-tháng 4 tương ứng mùa khô), Tây Nam (tháng 5-tháng 10, tương ứng mùa mưa), ẩm độ lớn, nhiệt độ cao và tương đối ổn định. Nhiệt độ trung bình năm là 270C. Nhiệt độ bình quân cao nhất là 28,50C, nhiệt độ bình quân thấp nhất 25,90C.

Riêng khu vực đồi núi khí hậu có tính chất phi địa đới nên nhiệt độ thấp hơn vùng đồng bằng khoảng 20C. 15 Lượng mưa tương đối lớn và phân bố theo thời gian. Lượng mức bình quân đạt 1316mm/năm. Năm cao nhất lên đến 1875 mm, năm thấp nhất là 895mm.

Số ngày mưa trung bình là 132 ngày. 90% lượng mưa tập trung vào tháng 5-tháng 11, 10% lượng mưa còn lại rơi vào tháng 12- tháng 4 năm sau. Do đó khí hậu phân hoá thành hai mùa rõ rệt mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa : tổng số giờ nắng bình quân mỗi ngày thấp hơn 2 giờ so với mùa khô, lượng bốc hơi cũng thấp hơn so với mùa khô tạo độ ẩm không khí lớn (80- 85%) trong khi mùa khô lượng bốc hơi cao nhất và độ ẩm trung bình chỉ đạt 75% gây tình trạng thiếu nước vào mùa khô.

Điều kiện thời tiết như bão nhiệt đới, hiện tượng forhn ít xảy ra ở An Giang và không có ảnh hưởng đáng kể.Chế độ thuỷ văn Chế độ thuỷ văn của An Giang thay đổi theo mùa và chịu ảnh hưởng của 4 yếu tố chính: chế độ dòng chảy của sông Mekong, chế độ thuỷ triều, đặc điểm địa hình và hệ thống kênh rạch chằng chịt và mưa nội đồng. An Giang là tỉnh đầu tiên tiếp nhận nguồn nước đổ vào đồng bằng sông Cửu Long từ sông Mekong thông qua hai nhánh chính sông Tiền và sông Hậu. Chính vì thế thuỷ chế phụ thuộc chặt chẽ vào chế độ nước của sông Mekong. Chế độ bán nhật triều không đều của biển Đông và hệ thống kênh rạch làm tăng mực nước bình quân trên sông Tiền và sông Hậu, gây khó khăn cho việc tiêu nước mùa lũ , nhất là lúc lũ lớn vào thời kì triều cường.

Vùng tứ giác Long Xuyên do tính chất đồng lũ hở , hàng năm nhận một lượng lớn nước phèn từ khu vực Bắc Hà Tiên theo kênh rạch đổ vào sông Hậu đưa ra vùng ven biển, nhưng do địa hình trũng đã gây ra sự ứ đọng phèn, nhất là giai đoạn giữa mùa mưa. Hàng năm lượng mưa trên toàn lưu vực sông Mekong vào khoảng 1600mm. Nước toàn lưu vực đổ vào dòng chính , làm tăng mực nước ở hạ lưu vào mùa mưa, lưu lượng nước đạt mức đỉnh vào cuối tháng 9. Mực nước tại Tân 16 Châu thường đạt vào khoảng 4,4m-đỉnh lũ.

Nước tràn khỏi dòng chính gây ngập lụt khoảng 80% diện tích tự nhiên của tỉnh An Giang với mực nước phổ biến 1- 2,5m, trong thời gian từ 2,5 đến 5 tháng tạo thành “mùa nước nổi”. Như vậy chế độ thuỷ văn ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng nước và tài nguyên đất của tỉnh An Giang. Một mặt cung cấp nguồn nước ngọt, một lượng lớn phù sa, nguồn thức ăn cho các loài thuỷ sinh sống, mặt khác tạo ra tình trạng nhiễm phèn mặn cho một bộ phận đất nông nghiệp.Tài nguyên đất Phần lớn đất đai An Giang màu mỡ , thích hợp phát triển các loại cây lương thực thực phẩm, cây ăn trái và phát triển chăn nuôi. Trên toàn lãnh thổ có 6 nhóm đất chính với 37 loại đất, trong đó nhóm phù sa ngọt và phù sa phèn chiếm 72% diện tích tự nhiên.

Hiện trạng sử dụng đất: diện tích 340.623 ha, đất đã đưa vào sử dụng 92%, 7,8% diện tích đất chưa sử dụng, đất hoang hoá còn khoảng 12. Diện tích mặt nước chiếm tỉ lệ lớn trên toàn tỉnh và thay đổi theo mùa. Vào mùa lũ diện tích mặt nước được mở rộng. Tỉnh An Giang khai thác tốt diện tích mặt nước để nuôi trồng thuỷ sản : nuôi cá bè, nuôi cá ao và có nhiều tiềm năng mở rộng.Tài nguyên sinh vật 1.Thảm thực vật và tài nguyên rừng Đặc điểm sinh cảnh chủ yếu của An Giang là rừng thường xanh gió mùa và sinh cảnh rừng bán ẩm nhiệt đới.

Theo đặc trưng thổ nhưỡng An Giang có kiểu sinh cảnh trên đất phèn, kiểu sinh cảnh ven sông rạch. Tài nguyên rừng: tập trung chủ yếu ở 2 huyện Tri Tôn và Tịnh Biên: An Giang có 583 ha rừng tự nhiên thuộc hệ rừng nhiệt đới, đa số là cây lá rộng với 154 loài thuộc 54 họ, rừng tràm phổ biến nhất 400 ha. 17 Hệ động vất rừng khá phong phú từ rắn, trăn, heo rừng, khỉ, nhím, dơi. đến các loài quạ, sếu đầu đỏ… 1.Tài nguyên thuỷ sinh vật Trên địa bàn tỉnh An Giang, nguồn lợi thuỷ sản dồi dào nhờ vào hai nhánh lớn: sông Tiền, sông Hậu của sông Mekong chảy qua.

Vì thế tại đây sớm phát triển ngành nghề nuôi cá bè, ao hầm trên ruộng, cũng như việc khai thác đánh bắt thuỷ sản mùa nước nổi, và những ngành nghề truyền thống cuả dân địa phương.Nguồn nước sinh hoạt Được cung cấp từ ba nguồn chính: nước mưa, nước ngập, nước ngầm. Nguồn nước và chất lượng nước là yếu tố quan trọng có tính chất quyết định cho việc cung cấp nước sinh hoạt. Nước mưa là nguồn nước có chất lượng cao cho ăn uống, sinh hoạt ở nông thôn, nhất là vùng thiếu nước mặn và nước ngầm như tứ giác Long Xuyên. Tuy nhiên, lượng nước tập trung vào 6 tháng mùa mưa nên lưu trữ để sử dụng cho mùa khô là vấn đề rất khó khăn.

Mùa mưa trữ lượng nước dồi dào và chất lượng tốt hơn mùa kiệt.ĐẶC ĐIỂM KINH TE - VĂN HOÁ - XÃ HỘI 2. Đặc điểm dân cư Dân số toàn tỉnh theo thống kê dân số 2005 là 2.256 người, tỉ lệ tăng 1,407 % và xu hướng giảm theo các năm. Bảng 1: Quy mô dân số tỉnh An Giang phân theo thành thị và nông thôn thời kì 2000 - 2002 Năm Tổng số Phân theo thành thị và nông thôn Tỷ lệ gia tăng dân số ( %) Thành thị Nông thôn 18 2000 2.752 1,407 ( Nguồn : Niên giám thống kê tỉnh An Giang – 2004) Có 4 dân tộc chính ở An Giang bao gồm người Kinh, Hoa, Chăm, Khmer. Người Kinh đa số sống tập trung ở thành phố , thị xã, thị trấn, trên các đường tự nhiên ven sông rạch,các truc giao thông chính… Khác với người Hoa ở thành phố buôn bán, sống thành cộng đồng có ổ chức chặt chẽ, người Hoa tại ĐBSCL sống phân tán và chủ yếu là nông nghiệp.

An Giang là tỉnh có người Hoa đông nhất tại ĐBSCL , tập trung chủ yếu tại các huyện Châu Phú, Châu Thành , Phú Tân. Người Chăm sống chủ yếu ở Châu Đốc, Tân Châu, Châu Phú khoảng 12. Người Chăm An Giang chủ yếu theo đạo Muslim. Hoạt động chủ yếu là làm ruộng và tiểu thủ công truyền thống.

Người Khmer định cư tư lâu đời tại vùng đất An Giang, tập trung chủ yếu ở hai huyện Tri Tôn và Tịnh Biên. Người Khmer theo Phật giáo tiểu thừa. Họ sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa.Đặc điểm kinh tế Cơ cấu kinh tế của An Giang: Nông nghiệp: 82,1%; khác : 18,9%, GDP năm 2005 đạt 20.756 tỷ đồng, GDP bình quân đầu người đạt 9. Cơ cấu lao động nhìn chung còn thấp, hiện có 95% là lao động đơn giản, lao động có kĩ thuật chiếm 3,5% lực lượng lao động đang làm việc trong nền kinh tế.

19 Năm 2004, tổng số hộ nghèo trong toàn tỉnh giảm 5,2%. Đời sống người dân vẫn còn gặp không ít khó khăn , nhất là vùng núi (Tri Tôn, Tịnh Biên), vùng sâu , vùng xa của tứ giác Long Xuyên. Biểu đồ 1 : Kim ngạch xuất khẩu của An Giang thời kì 1975 – 2004 ( Đơn vị : 1000 USD) 250000 220000 200000 182600 150000 168476 155261 147332 139976 132136 121992 120058 118777 100000 91263 107540 63384 91046 50000 65972 60240 14356 3660 4265 7292 269 341 15836 6874 10135 0 92 716 1357 2730 (Nguồn :www.vn/solieuthongke/kimngachxuatkhau / ) Hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế Mạng lưới giao thông Đến tháng 12-2004 toàn tỉnh có 7.169 km đường giao thông , trong đó đường bộ là 4.666km và đương thủy là 2. Cầu cống các loại có tổng chiều dài 41 077m các loại.

Giao thông nông thôn, nội bộ có 722 tuyến với tổng chiều dài 3 065km.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ