Chương 1 CĂN CỨ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN 1. Khái quát về hoạt động cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại ra đời và phát triển gắn liền với các hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường. Có nhiều khái niệm về ngân hàng thương mại tuy nhiên theo quy định tại Luật Các tổ chức tín dụng (TCTD) năm 2024 thì ngân hàng thương mại được định nghĩa như sau: “Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh tế hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, cung cấp các dịch vụ tài chính đa dạng nhưng nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ ngân hàng” (Quốc Hội, 2024).
Ngân hàng là một định chế tài chính trung gian, do vậy trong quan hệ tín dụng với các chủ thể kinh tế, các ngân hàng vừa là người đi vay vừa là người cho vay. Với tư cách là người đi vay, ngân hàng nhận tiền gửi của các chủ thể kinh tế, các cá nhân hoặc phát hành chứng chỉ tiền gửi: kỳ phiếu, trái phiếu để huy động vốn. Ngược lại với tư cách là người cho vay, ngân hàng cấp tín dụng cho các chủ thể kinh tế, các cá nhân bằng việc thiết lập các hợp đồng tín dụng, chiết khấu chứng từ có giá, bảo lãnh… Thông qua hoạt động này, ngân hàng có thể cung ứng vốn kịp thời cho nền kinh tế đồng thời tối đa hoá hiệu quả sử dụng đồng vốn của mình. Trong hoạt động tín dụng ngân hàng, hoạt động cho vay có vai trò quan trọng và mang lại phần lớn thu nhập cho ngân hàng.
Khái niệm cho vay của NHTM được thể hiện trong Luật các Tổ chức tín dụng năm 2024 như sau: “cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”. 5 Đối tượng khách hàng vay vốn của NHTM có KHCN và KHDN trong đó, đối tượng của nó là khách hàng cá nhân với mục đích phục vụ tiêu dùng hoặc mục đích sản xuất kinh doanh dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể. Theo NHNN (2020) thì “Cho vay khách hàng cá nhân (KHCN) là hình thức cấp tín dụng mà NHTM chuyển giao cho cá nhân, hộ kinh doanh một khoản tiền xác định trong một thời gian nhất định trên nguyên tắc hoàn trả lại gốc và lãi cho NHTM”. Như vậy, tuy có nhiều khái niệm và quan điểm khác nhau, nhưng về bản chất đều có chung nội dung là: cho vay khách hàng cá nhân là hoạt động mà trong đó ngân hàng đóng vai trò là người chuyển nhượng quyền sử dụng vốn của mình cho các khách hàng cá nhân trong một thời hạn nhất định theo nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi.
Khách hàng cá nhân là tất cả các cá nhân có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm theo quy định trước pháp luật. Các đối tượng yêu cầu vay vốn thường được sử dụng với mục đích mua nhà, vay kinh doanh, vay mua xe, đi du học… 1. Đặc điểm cho vay khách hàng cá nhân - Đối tượng khách hàng là các cá nhân và hộ gia đình có nhu cầu vay vốn để phục vụ nhu cầu đời sống hoặc để sản xuất kinh doanh. Khác với doanh nghiệp, đối tượng KHCN có số lượng rất lớn, chịu nhiều tác động của môi trường kinh tế, xã hội và văn hóa, nhu cầu vay vốn đa dạng nhưng không thường xuyên, phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: tình hình kinh tế xã hội, thu nhập, thói quen tiêu dùng,.
- Thời gian vay vốn đa dạng, bao gồm các khoản vay ngắn hạn, trung hạn hoặc dài hạn tùy thuộc vào mục đích vay vốn và phương thức cho vay. Đối với cho vay bổ sung vốn lưu động thiếu hụt phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh thời gian cho vay là ngắn hạn. Cho vay phục vụ nhu cầu đời sống thường là vay trung hạn hoặc dài hạn. - Quy mô khoản vay thường nhỏ và số lượng các khoản vay thường lớn: Thông thường thì các khoản cho vay khách hàng cá nhân có quy mô nhỏ hơn cho vay KHDN.
Tuy nhiên, theo xu hướng trong những năm gần đây các NHTM tập 6 trung vào mảng bán lẻ nên số lượng các khoản vay cá nhân chiếm tỷ trọng lớn. - Chi phí cho vay khách hàng cá nhân là các chi phí thẩm định, xét duyệt và quản lý các khoản vay. Các khoản vay của KHCN thường có quy mô nhỏ, nhưng số lượng khách hàng lớn, nhiều hồ sơ, hợp đồng, do vậy các ngân hàng thường phải bỏ ra nhiều chi phí hơn so với cho vay khách hàng doanh nghiệp. - Lãi suất cho vay của các khoản vay cá nhân thường cao hơn so với các khoản vay doanh nghiệp.
Nguyên nhân bởi vì chi phí cho vay KHCN tính trên mỗi đồng vốn cho vay là lớn, mức độ rủi ro của khoản cho vay KHCN cao và kém nhạy bén với lãi suất. - Cho vay KHCN thường chứa đựng nhiều rủi ro: Số lượng các khoản vay cá nhân là rất lớn giúp các NHTM phân tán được rủi ro nhưng những khoản vay này vẫn chứa đựng nhiều rủi ro. Đó là do tình hình tài chính của KHCN thường xuyên thay đổi theo tình trạng công việc và sức khỏe của họ. Tình hình tài chính của KHCN không ổn định khiến cho ngân hàng phải đối mặt với nguy cơ không thu hồi được vốn khi khách hàng phá sản, ốm đau, thất nghiệp,… Ngoài ra, NHTM còn gặp khó khăn trong việc thẩm định và xét duyệt cho vay do thông tin không cân xứng, các thông tin về cá nhân thường không được tiết lộ.
Điều đó khiến NHTM khó có thể ra quyết định một cách chuẩn xác và luôn phải quản lý chặt chẽ các khoản vay cá nhân. Các hình thức cho vay khách hàng cá nhân Việc phân loại các hình thức cho vay nhằm mục đích quản lí các khoản vay mang lại hiệu quả nhất. Tùy theo yêu cầu của khách hàng và mục tiêu quản lí của Ngân hàng, cho vay khách hàng cá nhân được phân loại theo những cách khác nhau. - Căn cứ vào mục đích cho vay: Cho vay tiêu dùng và cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh.
+ Cho vay tiêu dùng: Là khoản vay đáp ứng nhu cầu chi tiêu của các cá nhân, hộ gia đình như: xây nhà, sửa nhà, mua xe ô tô, mua sắm trang thiết bị gia đình, du học, chữa bệnh… + Cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh: khoản vay này đáp ứng nhu cầu bổ sung vốn lưu động và vốn cố định thiếu hụt trong hoạt động sản xuất kinh doanh. 7 - Căn cứ biện pháp đảm bảo khoản vay: Cho vay có tài sản đảm bảo và cho vay không có tài sản đảm bảo (tín chấp). + Cho vay có tài sản đảm bảo: Là loại cho vay mà Ngân hàng đưa ra điều kiện khách hàng vay phải thế chấp tài sản, cầm cố hoặc có bảo lãnh của bên thứ ba phù hợp với quy định của ngân hàng. + Cho vay không có tài sản đảm bảo (tín chấp): Là loại cho vay mà Ngân hàng không yêu cầu tài sản đảm bảo, cầm cố hoặc bảo lãnh của bên thứ ba mà chỉ dựa trên uy tín của bên thứ ba.
Đây là phương thức cho vay chủ yếu áp dụng đối với các khách hàng truyền thống, lâu năm và có uy tín. - Căn cứ vào phương thức cho vay: Cho vay từng lần; Cho vay theo hạn mức tín dụng; Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng; Cho vay theo hạn mức thấu chi. + Cho vay từng lần: là phương pháp cho vay mà mỗi lần vay khách hàng và Ngân hàng đều phải làm các thủ tục cần thiết như ký hợp đồng tín dụng. Đây là hình thức cho vay theo món khi khách hàng có nhu cầu.
+ Cho vay theo hạn mức tín dụng: Tổ chức tín dụng và khách hàng xác định và thoả thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian nhất định. + Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng: Tổ chức tín dụng chấp thuận cho khách hàng được sử dụng số vốn vay trong phạm vi hạn mức tín dụng để thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ và rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động hoặc điểm ứng tiền mặt là đại lý của tổ chức tín dụng. Khi cho vay phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, tổ chức tín dụng và khách hàng phải tuân theo các quy định của Chính phủ và NHNN Việt Nam về phát hành và sử dụng thẻ tín dụng. + Cho vay theo hạn mức thấu chi: Là phương thức cho vay mà Ngân hàng thỏa thuận bằng văn bản chấp nhận cấp cho khách hàng một hạn mức tín dụng nhất định, khách hàng có thể chi vượt số tiền có trên số dư tài khoản thanh toán của khách hàng tới một hạn mức nhất định, trong thời gian nhất định đã cấp.
Thông thường khách hàng vay vốn ngắn hạn. Hiện nay, phương thức cho vay này đang được các NHTM thực hiện ngày càng rộng rãi bởi tính ưu việt của nó 1. Vai trò của cho vay khách hàng cá nhân 8 Cho vay KHCN góp phần đáng kể trong chính sách kích cầu của Chính phủ. Tác động đầu tiên là khơi thông dòng vốn khu vực tư nhân của nền kinh tế, tiếp đó là tăng mức sống cho người dân, tăng thu nhập bình quân đầu người, giải quyết công ăn việc làm, giảm thất nghiệp, giảm tệ nạn xã hội.
Cụ thể cho vay khách hàng cá nhân có vai trò đối với các chủ thể trong nền kinh tế như sau: * Đối với khách hàng cá nhân Mang lại lợi ích trực tiếp cho cá nhân, là một giải pháp tài chính hiệu quả đáp ứng linh hoạt nhu cầu vốn phát sinh của cá nhân trong đời sống hàng ngày. Mọi cá nhân trong xã hội khi xuất hiện nhu cầu vốn đều có thể được đáp ứng thông qua hoạt động tín dụng cá nhân. Nhu cầu này có thể là nhu cầu chi tiêu thiết yếu cho cuộc sống (mua đất ở, sửa chữa nhà ở, trang trải chi phí du học…) đến những nhu cầu xa xỉ hơn như mua ô tô, đầu tư kinh doanh…Trước đây, khi hoạt động cho vay KHCN chưa phát triển mạnh, để mua sắm hay trang trải cho một dự định, một cá nhân thường phải lập kế hoạch tích lũy tài chính.