CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. HOẠT ĐỘNG CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Các khái niệm chung Theo Lê Thị Tuyết Hoa – Nguyễn Thị Nhung (2009) thì:“Tín dụng là quan hệ chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (dưới hình thức tiền tệ hoặc hiện vật) từ chủ thể sở hữu sang chủ thể sử dụng trên cơ sở phải có sự hoàn trả một lượng giá trị lớn hơn ban đầu trong một khoảng thời gian nhất định”. [18] Tại Việt Nam, Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 cũng quy định: - Tại Khoản 14, Điều 4 quy định: “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ tín dụng khác”.
[01] - Tại Khoản 16, Điều 4 quy định “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”. [01] Trong phạm vi của luận văn này, cho vay KHCN là hình thức cấp tín dụng mà trong đó NHTM đóng vai trò là người chuyển nhượng cho KHCN một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi. Đặc điểm hoạt động cho vay KHCN tại các ngân hàng thương mại Theo Hồ Diệu 2003, cho vay KHCN có đặc điểm sau: [04] - Đối tượng: Là các cá nhân và hộ gia đình có nhu cầu vay vốn để sử dụng cho mục đích sinh hoạt, tiêu dùng hay phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. 8 - Quy mô và số lượng các khoản vay: quy mô của mỗi khoản vay của KHCN thường nhỏ, số lượng các khoản vay KHCN thường lớn.
Ở các ngân hàng thương mại (NHTM) hoạt động theo định hướng là ngân hàng bán lẻ thì số lượng các khoản vay KHCN là rất lớn và do đó tổng quy mô các khoản vay KHCN thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng dư nợ của ngân hàng. - Lãi suất cho vay: Lãi suất của các khoản vay KHCN thường cao hơn các khoản vay khác, do chi phí cho vay nhiều, mức độ rủi ro cao. - Thời hạn vay vốn: Tùy vào mục đích vay vốn và hình thức cho vay có thể chia làm 3 thời hạn: ngắn hạn, trung hạn, dài hạn. - Chi phí cho vay: số lượng các khoản vay này rất lớn mà quy mô lại nhỏ nên các ngân hàng thường phải bỏ ra nhiều chi phí trong việc phát triển khách hàng, thẩm định, xét duyệt và quản lý các khoản vay.
Do đó, chi phí bình quân trên một đồng vốn cho vay mà ngân hàng phải chịu cao hơn các loại cho vay khác. - Chất lượng thông tin về khách hàng vay thường không cao và không đầy đủ, vì vậy đòi hỏi cán bộ thẩm định cho vay có kinh nghiệm và đạo đức nghề nghiệp. Rủi ro trong cho vay khách hàng cá nhân Theo khoản 1, Điều 2, Quyết định số 22/VBHN-NHNN: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động Ngân hàng của TCTD là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động Ngân hàng của TCTD do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”. [05] Như vậy rủi ro cho vay là khả năng xảy ra những tổn thất mà ngân hàng phải chịu do khách hàng vay không trả đúng hạn, không trả, hoặc không trả đầy đủ vốn và lãi.
- Không thu được lãi đúng hạn: ngân hàng sẽ chuyển số lãi đó vào khoản mục lãi treo phát sinh. - Không thu được vốn đúng hạn: Khi không thu được vốn đúng hạn thì tình hình sử dụng vốn bị ảnh hưởng và ảnh hưởng tới tính thanh khoản của tài sản, gây rủi ro lớn trong nhiệm vụ đảm bảo thanh khoản và tình hình sinh lời của tài sản. 9 - Không thu đủ lãi: khách hàng có thể đã gặp khó khăn không hiệu quả trong việc sử dụng vốn, ngân hàng cần có những biện pháp hỗ trợ khách hàng như giảm lãi, tư vấn cho khách hàng hoặc có thể cung cấp thêm những khoản tín dụng cần thiết cho khách hàng nếu dự án đang đầu tư là khả thi. - Không thu đủ vốn cho vay: ngân hàng sẽ chuyển khoản nợ vào mục nợ không có khả năng thu hồi hoặc phải xoá nợ.
Phân loại cho vay khách hàng cá nhân Theo Nguyễn Minh Kiều 2009, việc phân loại cho vay khách hàng cá nhân dựa vào nhiều tiêu chí khác nhau, cụ thể: 1. Dựa vào mục đích vay - Cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh: Là hình thức cấp tín dụng cho các hộ kinh doanh cá thể để tiến hành hoạt động sản xuất và lưu thông hàng hóa. - Cho vay tiêu dùng cá nhân: Là khoản CV KHCN, hộ gia đình để mua sắm hàng hóa tiêu dùng như phương tiện đi lại, trang thiết bị trong nhà, cho vay du học, chữa bệnh, mua nhà đất, xây dựng, sửa chữa nhà, thấu chi. Dựa vào phương thức trả nợ - Cho vay trả nợ một lần khi đáo hạn - Cho vay trả góp - Cho vay trả nợ nhiều lần, nhưng không quy định kỳ hạn trả nợ cụ thể 1.
Dựa vào thời hạn tín dụng - Cho vay ngắn hạn: Là các khoản vay có thời hạn cho vay đến 12 tháng, sử dụng chủ yếu để bù đắp nhu cầu vốn lưu động tạm thời thiếu của các hộ gia đình và nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của các cá nhân - Cho vay trung hạn: Là các khoản vay có thời hạn cho vay từ trên 12 tháng đến 60 tháng, được sử dụng chủ yếu để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới trang thiết bị, mở rộng sản xuất, xây dựng các dự án có quy mô nhỏ. - Cho vay dài hạn: Là các khoản vay có thời hạn cho vay từ trên 60 tháng trở lên, đáp ứng cho nhu cầu đầu tư dài hạn như xây dựng nhà xưởng, cải tiến và mở 10 rộng sản xuất có quy mô lớn. Do thời hạn đầu tư thường kéo dài nên cho vay dài hạn thường áp dụng hình thức giải ngân nhiều lần theo tiến độ. Dựa vào mức độ tín nhiệm của khách hàng - Cho vay không có bảo đảm: là loại hình cho vay chỉ dựa trên uy tín của chính người vay, hiệu quả kinh tế và khả năng trả nợ từ dòng tiền của phương án/dự án vay, không cần phải có các biện pháp đảm bảo tiền vay đi kèm.
Các NHTM có quyền chủ động và tự chịu trách nhiệm trong việc lựa chọn khách hàng để cho vay không có tài sản bảo đảm. Thông thường chỉ có những khách hàng vay có uy tín cao, quan hệ lâu dài, thường xuyên với Ngân hàng, phương án vay có hiệu quả kinh tế, dòng tiền trả nợ rõ ràng, chắc chắn, ngoài ra còn phải cam kết thực hiện bảo đảm bằng tài sản khi TCTD yêu cầu thì mới được Ngân hàng chấp nhận cho vay không có đảm bảo. - Cho vay có bảo đảm: Là cho vay dựa trên cơ sở của các biện pháp đảm bảo được pháp luật quy định trong bộ luật dân sự, chẳng hạn như cầm cố, thế chấp hoặc có bảo lãnh của người thứ ba. Hầu hết các khách hàng vay mới, ít quan hệ đều phải áp dụng đảm bảo mới được Ngân hàng cho vay.
Quy định này nhằm hình thành nguồn trả nợ bổ sung trong trường hợp nguồn trả nợ đầu tiên không thực hiện được 1. Dựa vào phương thức cho vay - Cho vay theo món: Là loại hình cho vay mà mỗi lần vay vốn khách hàng và TCTD thực hiện thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng. - Cho vay theo hạn mức tín dụng: Là loại hình cho vay mà TCTD và khách hàng xác định và thỏa thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian nhất định. - Cho vay theo dự án đầu tư: Là loại hình cho vay mà TCTD cho khách hàng vay vốn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu tư phục vụ đời sống.
PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm phát triển hoạt động cho vay KHCN Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì “Phát triển là phạm trù triết học chỉ ra tính chất của những biến đổi đang diễn ra trong thế giới. Phát triển là một thuộc tính của vật chất. Mọi sự vật và hiện tượng của hiện thực không tồn tại trong trạng thái khác nhau từ khi xuất hiện đến lúc tiêu vong,… nguồn gốc của phát triển là sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập”.
[06] Theo nguyên lý về sự phát triển trong “Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lê nin” thì khái niệm về phát triển được định nghĩa như sau: [07] - Theo quan điểm siêu hình: Phát triển chỉ là sự tăng, giảm thuần túy về lượng, không có sự thay đổi về chất của sự vật, đồng thời phát triển là quá trình tiến lên liên tục, không trải qua những bước quanh co phức tạp. - Theo quan điểm của triết học duy vật biện chứng thì phát triển là một quá trình tiến từ thấp đến cao, không chỉ là sự tăng giảm về mặt số lượng, mà còn là sự biến đổi về chất của sự vật, hiện tượng. Như vậy, phát triển là quá trình phát sinh và giải quyết mâu thuẫn khách quan vốn có của sự vật; là quá trình thống nhất giữa phủ định những nhân tố tiêu cực và kế thừa, nâng cao nhân tố tích cực từ sự vật cũ trong hình thái mới của sự vật. Hiểu một cách đơn giản thì phát triển là sự tăng lên cả về số lượng và chất lượng.
Trong lĩnh vực ngân hàng, phát triển cho vay KHCN là sự gia tăng dư nợ cho vay KHCN trong cơ cấu khách hàng cho vay tại một ngân hàng cộng với sự gia tăng về danh mục sản phẩm dịch vụ cho vay, đồng thời nâng cao chất lượng cho vay KHCN. Các tiêu chí đánh giá sự phát triển hoạt động cho vay KHCN 1. Tỷ trọng dư nợ cho vay KHCN trên tổng dư nợ của ngân hàng Dư nợ cho vay KHCN là tổng lượng tiền mà ngân hàng đã cho KHCN vay tính tại một thời điểm nhất định.