phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu thành ba chƣơng: - Chƣơng 1: Những vấn đề cơ bản về tín dụng khách hàng cá nhân và hiệu quả hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân tại NHTM. - Chƣơng 2: Thực trạng hiệu quả tín dụng khách hàng cá nhân tại ngân hàng TMCP Đông Nam Á-Chi nhánh Hà Đông. - Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân tại ngân hàng TMCP Đông Nam Á-Chi nhánh Hà Đông. 6 CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NHTM 1.
TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN 1. Khái niệm tín dụng khách hàng cá nhân Quan hệ tín dụng ra đời và tồn tại xuất phát từ đòi hỏi khách quan của quá trình tuần hoàn vốn để giải quyết hiện tƣợng dƣ thừa và thiếu hụt vốn diễn ra thƣờng xuyên giữa các chủ thể trong nên kinh tế. Theo Mác, tín dụng là sự chuyển nhƣợng tạm thời một lƣợng giá trị từ ngƣời sở hữu sang ngƣời sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định, khi đến hạn, ngƣời sử dụng phải hoàn trả một giá trị lớn hơn giá trị ban đầu. Nhƣ vậy, theo quan điểm này tín dụng có ba nội dung chủ yếu đó là tính chuyển nhƣợng tạm thời một lƣợng giá trị, tính thời hạn và tính hoàn trả.
Theo luật các tổ chức tín dụng năm 2010 và sửa đổi năm 2017 đã đƣợc Quốc hội nƣớc Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam thông qua thì cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. Có nhiều cách định nghĩa nhƣng tín dụng ngân hàng thƣờng chứa đựng ba nội dụng chính nhƣ sau: Thứ nhất: Có sự chuyển nhƣợng quyền sử dụng vốn từ ngƣời sở hữu vốn sang ngƣời sử dụng vốn. Thứ hai: Sự chuyển nhƣợng này mang tính thời hạn. Thứ ba: Sự chuyển nhƣợng này có kèm theo chi phí và rủi ro.
Trên cơ sở định nghĩa tín dụng ngân hàng nêu trên, xét trong phạm vi của luận văn này đối tƣợng khách hàng cá nhân bao gồm các cá nhân và hộ gia đình có chứng nhận đăng ký kinh doanh cá thể, ta có thể đƣa ra định nghĩa 7 tín dụng khách hàng cá nhân nhƣ sau. Tín dụng khách hàng cá nhân là hình thức mà trong đó ngân hàng thực hiện việc chuyển nhƣợng quyền sử dụng vốn của mình cho khách hàng cá nhân hoặc hộ gia đình sử dụng trong một thời hạn nhất định phải hoàn trả gốc và lãi với mục đích phục vụ đời sống và sản xuất kinh doanh dƣới hình thức cá thể hoặc hộ kinh doanh cá thể. Tín dụng khách hàng cá nhân đóng góp lớn đến sự lƣu thông các nguồn vốn trong xã hội, điều chuyển vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu, từ nơi hiệu quả thấp đến nơi có hiệu quả cao để đáp ứng nhu cầu vốn cho kinh doanh hoặc tiêu dùng của cá nhân và hộ gia đình. Tín dụng khách hàng cá nhân đã phát triển từ lâu trên thế giới, nhƣng là một khái niệm khá mới ở thị trƣờng Việt Nam.
Tuy nhiên tín dụng khách hàng cá nhân đã nhanh chóng thu hút đƣợc nhiều khách hàng và có tiềm năng rất lớn để phát triển. Điểm thuận lợi là quy mô thị trƣờng lớn với dân số đông (khoảng 96 triệu ngƣời), đa số trong đó có độ tuổi trẻ, có thu nhập ngày càng cao và có nhu cầu chi tiêu cho nhiều mục đích. Hiện nay xu hƣớng tiêu dùng trƣớc, trả sau để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho cuộc sống tăng nhanh, nhất là ở các thành phố lớn. Chính vì thế, các sản phẩm tín dụng khách hàng cá nhân của ngân hàng đƣợc khách hàng rất quan tâm.
Đây là cơ sở để các ngân hàng tự tin đẩy mạnh mảng kinh doanh tín dụng này. Đặc điểm của tín dụng khách hàng cá nhân 1. Quy mô các khoản vay nhỏ nhƣng số lƣợng các khoản vay lớn Trên thực tế, các khoản vay của tín dụng khách hàng cá nhân thƣờng hƣớng đến hai đối tƣợng chủ yếu nhƣ cho vay hộ gia đình để bổ sung vốn sản xuất kinh doanh và cho vay tiêu dùng nhƣ mua xe, sửa nhà, xây nhà. Tuy nhiên, do năng lực của khách hàng vay bị hạn chế về tài sản đảm bảo, về năng 8 lực tài chính, nguồn trả nợ và qua đánh giá tính phù hợp của nhu cầu vốn nên thƣờng các khoản vay hƣớng đến khách hàng cá nhân thƣờng nhỏ lẻ.
Số lƣợng khách hàng cá nhân lớn do đối tƣợng là các cá nhân trong xã hội từ ngƣời có thu nhập thấp đến ngƣời có thu nhập cao. Mặt khác, do nhu cầu vay của các cá nhân trong xã hội rất phong phú và đa dạng nên số lƣợng các khoản vay cá nhân thƣờng lớn. Mức độ rủi ro cao. -Rủi ro do bất cân xứng thông tin: Với khách hàng doanh nghiệp, việc thu thập thông tin là tƣơng đối dễ dàng do có rất nhiều nguồn cung cấp nhƣ báo cáo tài chính, bảng xếp hạng tín dụng, tình hình niêm yết chứng khoán, thậm chí là các mối quan hệ với đối tác của công ty, tình hình nộp thuế.
nhƣng với khách hàng cá nhân việc thu đánh giá năng lực khách hàng gặp nhiều khó khăn khiến cho việc thẩm định khách hàng trở nên thiếu chính xác. Ngoài ra, nguồn trả nợ của khách hàng cá nhân là thu nhập hàng tháng do chính cá nhân tạo ra, do vậy, nếu ngƣời vay gặp phải các rủi ro bất ngờ dẫn đến việc mất khả năng tạo ra nguồn thu thì rõ ràng ảnh hƣởng rất nhiều đến việc trả nợ cho khách hàng. - Rủi ro từ phía khách hàng: Với khách hàng cá nhân có thể do nhiều yếu tố chủ quan và khách quan mà họ không thể thực hiện trả nợ hoặc trì hoãn trả nợ, từ đó gây ảnh hƣởng đến hiệu quả cho vay của ngân hàng. Nhân tố chủ quan có thể là tình trạng “sức khoẻ” tài chính của ngƣời đi vay, công việc làm ăn không tốt… ảnh hƣởng trực tiếp đến năng lực tài chính của khách hàng, từ đó giảm khả năng thực hiện trả nợ của khách hàng.
Các nhân tố khách quan nhƣ hạn hán, mất mùa, sự suy thoái của nền kinh tế dẫn đến khả năng mất việc cao… cũng là những nguy cơ ảnh hƣởng đến khả năng hoàn trả của khách hàng. Chi phí để phát triển cho vay cá nhân cao 9 Đặc điểm của khách hàng cá nhân là phân bố rộng và đối tƣợng nhiều, ngân hàng phải thực hiện rất nhiều bƣớc trong quá trình cho vay từ lúc tiếp nhận hồ sơ, thẩm định khách hàng, giải ngân cho đến lúc thu hồi nợ nên thƣờng gây tốn kém rất nhiều chi phí nhƣ: - Chi phí bán hàng: tiếp thị quảng cáo, in tờ rơi, ấn phẩm,… - Chi phí nhân lực. - Chi phí quản lý: điện nƣớc, văn phòng. Phân loại tín dụng khách hàng cá nhân 1.
Phân loại theo tính chất của tài sản thế chấp - Tín dụng có tài sản đảm bảo: Là khoản vay đƣợc đảm bảo bằng tài sản hoặc giấy tờ có giá hoặc đƣợc bảo lãnh từ bên thứ ba. Tài sản đảm bảo hoặc bảo lãnh của bên thứ ba thực chất là căn cứ pháp lý để ngân hàng có thêm đƣợc nguồn dự phòng khi nguồn thu chính từ khách hàng bị thiếu hụt, tạo áp lực trả nợ cho khách hàng, từ đó giảm thiểu rủi ro cần thiết cho ngân hàng. - Tín dụng không có tài sản đảm bảo: Là khoản vay đƣợc đảm bảo bằng uy tín của khách hàng với ngân hàng. Thông thƣờng hình thức cấp tín dụng này đƣợc áp dụng với một số nhóm đối tƣợng cụ thể hoặc các khách hàng có giao dịch thƣờng xuyên và uy tín với ngân hàng.
Phân loại theo thời gian vay vốn - Tín dụng ngắn hạn: Là khoản tín dụng có thời hạn dƣới 12 tháng (01 năm), chủ yếu nhằm mục đích tài trợ cho tài sản lƣu động hoặc nhu cầu sử dụng vốn ngắn hạn cá nhân và hộ kinh doanh. - Tín dụng trung hạn: Là loại tín dụng có thời hạn từ 12 đến 60 tháng (01 năm đến 05 năm). Tín dụng trung hạn thƣờng phục vụ các nhu cầu vay vốn tƣơng đối lớn nhƣ mua ô tô, sửa chữa nhà ở,… - Tín dụng dài hạn: Là loại tín dụng có thời hạn trên 60 tháng (05 năm). 10 Tín dụng dài hạn đƣợc cấp khi cá nhân có khoản vay lớn, chủ yếu để phục vụ cho nhu cầu mua sắm nhà cửa, đất đai.
Tín dụng dài hạn thƣờng tiềm ẩn nhiều rủi ro. Phân loại theo mục đích vay vốn Thông thƣờng nếu phân loại theo mục đích vay vốn thì tùy theo các chƣơng trình của từng ngân hàng khác nhau mà có những khoản vay khác nhau. Nó thƣờng rất đa dạng, phong phú đáp ứng đƣợc hầu hết các nhu cầu vay thuộc mọi tầng lớp của khách hàng. Phân theo hình thức này chủ yếu gồm các loại sau: - Cho vay tiêu dùng: Đây là hình thức có nhu cầu vay vốn nhiều nhất, nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu và mua sắm tiện nghi, sinh hoạt gia đình để cải thiện và nâng cao chất lƣợng cuộc sống.
Nhóm khách hàng thuộc loại này là những ngƣời có thu nhập ổn định, và thông thƣờng họ là những ngƣời công viên chức hƣởng lƣơng. - Cho vay bất động sản: Cho vay bất động sản là sản phẩm dành cho các các nhân nhằm đáp ứng nhu cầu mua, sửa chữa nhà ở của khách hàng. Hình thức cho vay này thƣờng đƣợc cấp hạn mức tín dụng cao hơn và thời gian cho vay dài hơn cho vay tiêu dùng. - Cho vay sản xuất kinh doanh: Đây là sản phẩm cho vay nhằm bổ sung nguồn vốn cho cá nhân, hộ gia đình kinh doanh cá thể để sản xuất kinh doanh.
Đây là đối tƣợng có nhu cầu vay vốn khá lớn tuy nhiên cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro nhất do nguồn vốn cho vay hoàn toàn phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của khách hàng. - Cho vay phục vụ sản xuất nông nghiệp: Là hình thức cho vay tập trung vào các ngành nghề nhƣ trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản. Hình thức cho vay này khuyến khích bà con nông dân chuyển đổi từ sản xuất nhỏ lẻ để sang một mô hình sản xuất lớn hơn phục vụ cho thị trƣờng rộng hơn.