CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ SỰ PHÁT TRIỂN HUY ĐỘNG TIỀN GỬI TỪ KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Huy động tiền gửi từ khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm huy động tiền gửi từ khách hàng cá nhân Có một số quan điểm khác nhau về huy động tiền gửi: Theo Peter S.Rose, Huy động tiền gửi là hoạt động ngân hàng nhận tiền gửi từ các tổ chức, cá nhân thông qua các hình thức nhận tiền gửi giao dịch và tiền gửi phi giao dịch để đáp ứng các nhu cầu về vốn. Theo luật các tổ chức tín dụng Việt Nam, huy động tiền gửi là hoạt động nhận tiền gửi của tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác nhau theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thõa thuận.
Tổng kết lại, khái niệm chung về huy động tiền gửi được sử dụng trong luận văn là: huy động tiền gửi là nghiệp vụ tiếp nhận nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi từ các tổ chức và cá nhân bằng nhiều hình thức khác nhau để hình thành nên nguồn vốn hoạt động của ngân hàng. Huy động tiền gửi từ KHCN là một bộ phận quan trọng trong huy động vốn. Đây là khu vực đầy tiềm năng cho các ngân hàng. Huy động tiền gửi từ KHCN là việc các ngân hàng thu hút các khoản tiền nhàn rỗi của KHCN thông qua hình thức gửi tiết kiệm, gửi tài khoản và trả lãi cho họ, sau đó chuyển đến cho những người cần vốn để mở rộng đầu tư, kinh doanh.
Bản chất huy động tiền gửi từ khách hàng cá nhân Bản chất của huy động tiền gửi từ KHCN là ngân hàng mua quyền sử dụng các khoản vốn từ KHCN đó trong một thời gian nhất định, có nghĩa là nhận các khoản tiền gửi của khách hàng với nhiều hình thức khác nhau (phân chia theo loại kỳ hạn và tính chất của tiện ích), có trả lãi hoặc, cũng có thể bao gồm, cung ứng dịch vụ tiện ích theo hình thức huy động; đồng thời NHTM được quyền sử dụng nguồn vốn huy động ấy để cho vay lại hoặc để cung ứng dịch vụ tiện ích nhằm mục tiêu thu lợi nhuận và có trách nhiệm hoàn trả số vốn đó theo đúng kế hoạch. Ngân hàng chỉ có quyền sử dụng mà không có quyền sở hữu. Tiền gửi của KHCN đóng vai trò rất quan trọng đối với mọi hoạt động kinh doanh của NHTM. Nguyên tắc huy động tiền gửi từ khách hàng cá nhân Huy động tiền gửi nhàn rỗi trong xã hội là hoạt động quan trọng hàng đầu của NHTM.
Ngân hàng có thể huy động tiền gửi để đáp ứng nhu cầu vay vốn và các dịch vụ tài chính khác cho nền kinh tế. Để đảm bảo công tác huy động tiền gửi từ KHCN có hiệu quả, trong quá trình thực hiện các ngân hàng phải tuân thủ theo hai nguyên tắc là: - Ngân hàng có trách nhiệm trả tiền gửi đúng kỳ hạn cả vốn và lãi cho khách hàng. Để huy động được vốn từ KHCN có hiệu quả, các ngân hàng cần phải quán triệt nguyên tắc này, tức là phải đáp ứng được lợi ích của khách hàng khi gửi tiền từ đó tạo lập được sự tin tưởng của khách hàng với ngân hàng. Để thực hiện được nguyên tắc này các ngân hàng phải không ngừng đổi mới công nghệ, xây dựng các quy trình chuẩn trong huy động vốn cũng như các nghiệp vụ khác có liên quan.
Ngoài ra, NH trung ương phải có những quy định thiết thực giúp các ngân hàng thực hiện tốt nguyên tắc này như quy định về lãi suất cơ bản, phát hành trái phiếu, tỷ lệ dự trữ bắt buộc 1 .Những quy định này chính là cơ sở để các 1 Ở Việt Nam: QĐ 379/QĐ-NHNN ngày 24/02/2009 quy định tỷ lệ dữ trữ bắt buộc đối với tiền gửi bằng đồng Việt Nam cho không kỳ hạn và dưới 12 tháng là 3%, từ 12 tháng trở lên là 1%; QĐ 1925/QĐ-NHNN ngày 7 ngân hàng thương mại đảm bảo khả năng thanh toán với khách hàng và giữ uy tín cho ngân hàng. Thanh khoản mang ý nghĩa thời điểm rất lớn. Thực tế, rất hiếm khi tại một thời điểm tổng cầu thanh khoản lại bằng tổng cung thanh khoản. Do đó, NH thường xuyên phải đối mặt với thâm hụt hay thặng dư thanh khoản.
Thêm vào đó, giữa khả năng thanh khoản và khả năng sinh lời luôn có sự đánh đổi, nếu NH càng tập trung nhiều vốn để sẵn sàng đáp ứng yêu cầu thanh khoản thì khả năng sinh lời của nó càng thấp (các yếu tố khác không đổi). Do vậy, đảm bảo khả năng thanh khoản hợp lý là một vấn đề không bao giờ kết thúc đối với hoạt động quản lý và nó mang một ý nghĩa to lớn đối với khả năng sinh lời của ngân hàng. - Quy định số vốn tối đa ngân hàng được phép huy động và tỷ lệ cho vay. Để đảm bảo khả năng thanh khoản tốt cho khách hàng, giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng thì NH trung ương thường đưa ra những quy định theo đó NHTM có thể được tự do hoạt động trong phạm vi đã được Nhà nước cho phép để đảm bảo khả năng về vốn của đơn vị.
Theo đó, nguồn vốn huy động được NH trung ương cũng quy định về tỷ lệ cho vay trong tổng nguồn vốn huy động và tỷ lệ dùng nguồn vốn huy động ngắn hạn để cho vay trung, dài hạn. Tuân thủ quy định này cũng giúp cho ngân hàng sử dụng vốn có hiệu quả qua đó tạo được thu nhập cho ngân hàng. Để thu hút được lượng vốn tối đa vào ngân hàng, đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế, tránh tình trạng ứa đọng vốn gây mất hiệu quả thì các ngân hàng trước khi ra quyết định huy động vốn cần tính toán số lượng vốn cần thiết phải huy động, lãi suất phù hợp và lựa chọn hình thức huy động phù hợp với điều kiện ngân hàng và của địa phương. Mặt khác phải đưa ra quy trình huy động vốn chuẩn mực, đơn giản, cần có các chiến lược Marketing phù hợp, thông tin rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng về hình thức huy động, cách thức trả 26/8/2011 quy định tỷ lệ dữ trữ bắt buộc đối với tiền gửi bằng đô la mỹ cho không kỳ hạn và dưới 12 tháng là 8%, từ 12 tháng trở lên là 6%.
8 lãi… Như vậy, trong quá trình hoạt động nếu mỗi ngân hàng thưc hiện tốt nghiệp vụ huy động vốn sẽ tạo được nguồn vốn đảm bảo để thực hiện các hoạt động kinh doanh khác có hiệu quả. Đặc điểm huy động tiền gửi từ khách hàng cá nhân Đặc điểm chung của huy động tiền gửi từ KHCN là chúng phải được thanh toán khi khách hàng yêu cầu ngay cả khi đó là tiền gửi có kỳ hạn chưa đến hạn. Sự thay đổi, đặc biệt là tiền gửi ngắn hạn, làm thay đổi yêu cầu thanh khoản của ngân hàng. Bên cạnh đó, các điểm nổi bật của huy động tiền gửi từ KHCN là: - Quy mô tiền gửi của KHCN lớn: Thông thường nguồn này chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn huy động và là mục tiêu tăng trưởng hàng năm của các ngân hàng.
Dân cư là đối tượng đông nhất trong nền kinh tế và có thói quen tích trữ lại như một khoản tiết kiệm để phục vụ cho nhu cầu sử dụng trong tương lai. Chính vì vậy nếu ngân hàng tập trung huy động nguồn vốn này sẽ tạo ra một nguồn vốn có quy mô lớn cho NHTM. Các hoạt động khác của ngân hàng chủ yếu dựa vào nguồn vốn này. Mặt khác chi phí của nguồn vốn huy động từ dân cư sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến chi phí huy động chung của tổng nguồn huy động và là một trong những chỉ tiêu quan trọng để NHTM xác định lãi suất cho vay.
- Tiền gửi KHCN là nguồn ổn định nhất: Vốn huy động từ các tổ chức tín dụng khác và của các tổ chức kinh tế xã hội thường không ổn định do sự di chuyển liên tục của dòng tiền trong nền kinh tế. Trong khi đó, vốn huy động từ khách hàng cá nhân có tính chất ổn định do người dân khi gửi tiền vào NHTM thường do mục đích tích lũy để tiêu dùng những việc lớn hơn trong tương lại, nên ngân hàng có thể lập được kế hoạch và có thể dự báo được thời điểm tăng giảm của nó. - Nguồn vốn huy động từ KHCN là đối tượng được bảo hiểm tiền gửi: Hầu hết ở các nước ngân hàng phải mua bảo hiểm cho tiền gửi.Tuy vậy, bảo hiểm 9 tiền gửi chỉ giới hạn áp dụng cho một số loại tiền nhất định 2 - Nguồn vốn huy động từ KHCN thường nhạy cảm với biến động về lãi suất, tỷ giá, thu nhập, chu kỳ chi tiêu và nhiều nhân tố khác: Lãi suất cao là một phần nhân tố kích thích người gửi tiền. Trong điều kiện có lạm phát cao, người gửi tiền thường quan tâm tới lãi suất thực, điều đó có nghĩa là lãi suất thực dương mới thực sự hấp dẫn các nguồn tiền tiết kiệm.
Các yếu tố khác như địa điểm ngân hàng, mạng lưới chi nhánh và quầy giao dịch, các loại hình huy động đa dạng, thời vụ… đều ảnh hưởng đến qui mô và cấu trúc của nguồn tiền. Các hình thức huy động tiền gửi từ khách hàng cá nhân của Ngân hàng thương mại. Có nhiều cách phân loại hình thức huy động tiền gửi, nhưng cách được sử dụng nhiều nhất là phân loại theo mục tiêu và phương pháp huy động. Huy động tiền gửi thường được phân loại thành: tiền gửi thanh toán, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và phát hành các giấy tờ có giá khác.
Tiền gửi thanh toán Một trong những dịch vụ nhận tiền gửi lâu đời nhất mà ngân hàng cung cấp là nhận tiền gửi để thực hiện thanh toán hộ cho khách hàng. Tiền gửi thanh toán đòi hỏi ngân hàng phải thanh toán ngay lập tức các lệnh rút tiền cho một cá nhân hay bên thứ ba được chỉ rõ là người thụ hưởng. Tiền gửi thanh toán bao gồm tiền gửi thanh toán có hưởng lãi và tiền gửi thanh toán không hưởng lãi. Tiền gửi thanh toán gửi vào ngân hàng nhằm sử dụng các tiện ích do ngân hàng cung cấp như thanh toán hộ, chi trả hộ, thu hộ.