phần mở đầu, kết luận, danh mục TUTK, nội dung chính của báo cáo đề án được kết cấu thành 3 phan, gồm: Phan 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại Phần 2: Thực trạng phát triển cho vay khách hàng cá nhân của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Hà Nội chỉ nhánh Hàng Trống Phần 3: Đánh giá và đề xuất, kiến nghị nhằm phát triển cho vay khách cá nhân của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Hà Nội chỉ nhánh Hàng Trống. CO SO LY LUAN VA THUC TIEN VE PHAT TRIEN CHO VAY KHACH HANG CA NHAN CUA NGAN HANG THUONG MAI 1.1 Cơ sở lý thuyết về phát ít cho vay khách hàng cá nhân và phát triển cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại 1.1 Một số vấn đề cơ bản về cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại 1.1 Khái niệm và đặc điểm cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại a) Khái niệm cho vay khách hàng cá nhân của NHTM. Cho vay khách hàng cá nhân của các Ngân hàng thương mại mới chỉ dừng lại ở một số ít cá nhân và khách hàng và chưa được coi là một hoạt động kinh doanh. chủ đạo của ngân hàng.
Tuy nhiên, trong một vài năm gần đây (từ năm 2000 đến nay) hoạt động cho vay khách hàng cá nhân của các ngân hàng phát triển mạnh mẽ và sẽ còn tiếp tục phát triển trong tương lai. Theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các tổ chức tín dụng (2017): “cho vay khách hàng cá nhân là hình thức cắp tin dụng theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng cá nhân một khoản tiền đề sự dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi ”. Theo nhà kinh tế học Peter S.Rose thì: “Cho vay KHCN là một giao dịch tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên đi vay khi đến hạn thanh toán của ngân hàng”. Khái niệm này được đưa ra dựa trên phương diện những loại hình dịch vụ mà ngân hàng thương mại cung cấp.
Tại khoản 1 Điều 3 Thông tư 43/2020/TT-NHNN thì “Cho vay khách hàng cá nhân (KHCN) là hình thức cắp tín dụng mà NHTM chuyển giao cho cá nhân, hộ kinh doanh một khoản tiền xác định trong một thời gian nhất định trên nguyên tắc hoàn trả lại gốc và lãi cho NHTM. Khoản tiền này được cá nhân, hộ kinh doanh sử dụng vào các mục đích cụ thê đã thỏa thuận với NHTM. Mức tổng dư nợ quy định tại khoản này không áp dụng đối với cho vay khách hàng cá nhânđể mua ôtô và sit dụng ôtô đó làm tài sản bảo đảm cho chính khoản vay đỗ theo quy định của pháp 10 luật. ” Nhu vậy, tuy có nhiều khái niệm và quan điểm khác nhau, nhưng về bản chất đều có chung nội dung là: “cho vay khách hàng cá nhân là hoạt động mà trong đó ngân hàng đóng vai trò là người chuyển nhượng quyên sử dụng vốn của mình cho.
các khách hàng cá nhân trong một thời hạn nhất định theo nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi ”. Khách hàng cá nhân là tất cả các cá nhân có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm theo quy định trước pháp luật. Các đối tượng yêu cầu vay vốn thường được sử dụng với mục đích mua nhà, vay kinh doanh, vay mua xe. b) Đặc điểm cho vay khách hàng cá nhân Mặc dù hoạt động cho vay KHCN là một kênh kinh doanh tiềm năng, nhưng.
việc triển khai cho vay trên phân khúc khách hàng này không đơn giản vì hoạt động này có những đặc trưng riêng biệt. Aục đích cho vay: các cá nhân, hộ gia đình thường có nhu cầu sử dụng vốn vào mục đích tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, nhu cầu vay vốn của KHCN chịu sự ảnh hưởng lớn bởi môi trường kinh tế, văn hóa, xã hội và cả địa lý. Tại các vùng miền khác nhau thì nhu cầu vay vốn của KHCN cũng khác nhau tùy thuộc và tình hình kinh tế và thói quen tiêu dùng của dân cư vùng miễn đó.
Quy mô và số lượng khoản vay: hoạt động cho vay KHCN thường có đặc điểm là quy mô nhỏ và số lượng nhiều. Các khoản vay này thường có quy mô nhỏ vì hoạt động kinh doanh của các cá nhân, hộ gia đình thường nhỏ lẻ, năng lực kinh doanh gặp nhiều hạn chế. Ngoài ra số tiền cho vay hai mục đích này đều bị giới hạn bởi những điều kiện từ phía NHTM như điều kiện pháp lý người vay, khả năng trả nợ vay, giá trị tài sản bảo đảm. ố lượng khoản vay nhiều do hai nguyên nhân là số lượng khách hàng đông.
do đối tượng của loại hình cho vay này là mọi cá nhân, hộ gia đình thuộc moi ting lớp trong xã hội và nhu cầu cho vay phong phú, đa dạng. Chỉ phí cho các khoản vay: do KHCN có số lượng nhiều, phân tán rộng nên việc cho vay, duy trì, quản lý và mở rộng cho vay KHCN thường tốn kém nhiều chỉ phí hơn. Để cho vay được một khách hàng, cần qua các khâu tìm kiếm khách hàng, thấm định, ký kết hợp đồng, đăng ký giao dịch bảo đảm và giải ngân. Do số lượng 1I khoản vay nhiều, mà số tiền vay thường nhỏ lẻ nên khi cho vay KHCN các NHTM chịu nhiều chỉ phí về thời gian, công sức, tiền bạc cho các khâu trên.
Ngoài ra NHTM còn chịu các chỉ phí quản lý các khoản vay này. Quá trình mở rộng cho vay đối với đối tượng này cũng khá tốn kém do đối tượng này phân tán trên địa bàn rộng. Đề có thê đáp ứng được nhanh chóng nhu cầu của khách hàng và mở rộng cho vay được hiệu quả, NHTM thường có số lượng Cán bộ tín dụng phục. vụ KHCN đông đảo hơn số lượng Cán bộ tín dụng phục vụ KHDN.
Từ đó cũng gây các tốn kém về chỉ phí quản lý nhân sự cho NHTM. Rúi ro trong cho vay khách hàng cá nhân: cho vay KHCN có hai rủi ro cơ bản là rủi ro về phía khách hàng và rủi ro tác nghiệp của NHTM. Khi thâm định cho vay thì thông tin về pháp lý, nhu cầu vay vốn, khả năng. trả nợ và tải sản bảo đảm của khách hàng là những yếu tố quan trọng để NHTM đưa.
đến quyết định cho vay. Thông thường, các thông tin này ở đối tượng là KHDN: thường rõ rằng hơn thông qua báo cáo tài chính, tình hình nộp thuế, uy tín quan hệ với đối tác. Tuy nhiên, đối với KHCN, việc thâm định cho vay thường thiếu đầy đủ và rõ ràng. Nguồn trả nợ của khách hàng thường từ lương hoặc từ lợi nhuận hoạt động kinh doanh ở thời điểm hiện tại.
Nhưng hai nguồn này thường chịu ảnh. hưởng bởi tình hình công việc và sức khỏe của khách hàng. Khi người di vay gặp. vấn đề vẻ sức khỏe, mắt việc làm hoặc các biến cố khác bắt ngờ ảnh hưởng đến thu nhập thì sẽ không trả được nợ vay.
Bên cạnh đó, các thông tin tài chính từ hoạt động. kinh doanh của KHCN thường không rõ ràng, không được ghi chép đầy đủ. Từ đó cũng dẫn tới nhiều khó khăn trong khâu thấm định khách hàng. Do đặc điểcủa loại hình cho vay KHCN thường có số lượng nhiều và quy mô nhỏ, vì vậy để đáp ứng tối đa nhu cầu khách hàng nhằm nâng cao kết quả công.
việc đòi hỏi sự phục vụ nhanh chóng của Cán bộ tín dụng (CBTD). Do đó, trong quá trình thẩm định hồ sơ tín dụng, CBTD thường hay chủ quan, thậm chí lợi dụng. sự lỏng lẻo trong khâu quản lý để lừa đảo chiếm đoạt tải sản của khách hàng, hoặc thông đồng với khách hàng gây ra những tồn thất cho ngân hàng. Rủi ro này còn tăng lên đối với cho vay tín chấp, do NHTM cho vay trên cơ sở thẩm định uy tín của khách hàng mà không có biện pháp bảo đảm bằng tài sản.
Trong trường hợp đó, nếu khách hàng thực sự không có khả năng trả nợ hoặc không. có ý chí trả nợ trong khi việc quản lý thông tin về sự thay đôi nơi cư trú, công việc của khách hàng là một điều không dễ dàng. Từ đó sẽ rất khó khăn cho NHTM trong. quá trình xử lý khoản vay đề thu hồi nợ.
12 Lãi suất cho vay: Từ các đặc điểm và rủi ro của hoạt động cho vay KHCN, nên lãi suất cho vay KHCN thường cao hơn lãi suất các khoản vay khác của NHTM.2 Phân loại cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại Khách hàng cá nhân thường vay các khoản nhỏ lẻ nhằm mục đích sản xuất, tiêu dùng. Phân loại theo thời hạn khoản vay Tin dụng ngắn hạn: Là khoản tín dụng dưới 1 năm và được sử dụng đề bố sung sự thiếu hụt tạm thời vốn lưu động của khách hàng nhằm mục đích sinh hoạt của gia đình. Tín dụng trung hạn: Là khoản tín dụng có thời hạn 1-3 năm, thường để cung cấp, mua tài sản cố định, phục vụ cho nhu cầu sản xuất và kinh doanh có giá trị cao. của hộ gia đình.
Tín dụng dài hạn: Là khoản tín dụng có thời hạn 3 năm trở lên, nhằm đáp ứng nhu cầu của hộ gia đình như sản xuất lớn, mua nhà ở có giá trị cao. Phân loại theo mục đích sử dụng vốn Tin dụng tiêu dùng: Là hình thức dành cho cá nhân có nhu cầu mua sắm tài sản phục vụ cho sinh hoạt gia đình. Tín dụng cho sản xuất kinh doanh: Là loại tin dụng dành cho những cơ sở sản xuất, kinh doanh nhằm mục đích hỗ trợ thúc đây sản xuất kinh doanh như mua. sắm thiết bị máy móc, cung cấp vốn lưu động.
Phân loại theo tài sản bảo đảm Tin dung có tài sản bảo đảm: Là hình thức đi vay cầm cố, thế chấp tài sản bảo đảm hoặc có sự bảo lãnh bên thứ ba. Tín dụng không có tài sản bảo đảm: hay còn gọi là tín chấp, không có tài sản bảo đảm hay sự bảo lãnh của bên thứ ba. Phân loại dựa vào hình thức tín dung Cho vay: là việc ngân hàng cam kết cấp một khoản tiền cho khách hàng với những ràng buộc khách hàng sẽ phải hoàn trả gốc và lãi theo đúng quy định của hợp. Chiết khấu: là việc mà Ngân hàng dùng một khoản tiền tương ứng trên giấy.
tờ có gid ma khách hàng mang đến trừ đi khoản chỉ phí và lợi nhuận của Ngân hàng.