Đặt vấn đề Đã có nhiều nghiên cứu về bột lá keo giậu trong chăn nuôi gà thịt. Tuy nhiên, việc nghiên cứu ảnh hƣởng của cách thức bổ sung bột lá keo giậu vào khẩu phần còn chƣa đƣợc hoặc ít đƣợc nghiên cứu. Bột lá keo giậu thƣờng có năng lƣợng trao đổi (ME) thấp hơn so với tiêu chuẩn ME trong thức ăn hỗn hợp của gà thịt. Tuy nhiên, hàm lƣợng protein thì lại cao hơn.
Vì vậy, bổ sung bột lá keo giậu vào khẩu phần theo các cách khác nhau thì khẩu phần sẽ có giá trị năng lƣợng trao đổi thấp hơn và tỷ lệ protein cao hơn. Thông thƣờng ngƣời ta xây dựng công thức thức ăn, trong đó bột lá keo giậu là một trong các thành phần nguyên liệu; công thức thức ăn này bảo đảm khẩu phần có chứa năng lƣợng trao đổi và tỷ lệ protein đúng theo tiêu chuẩn. Cách này đảm bảo đƣợc cân đối mức năng lƣợng và protein, nhƣng chi phí thức ăn tăng cao do dùng dầu thực vật để bù đắp năng lƣợng cho bột lá. Cách thứ hai thƣờng đƣợc sử dụng nhiều hơn đó là: Thay thế một phần thức ăn hỗn hợp (khẩu phần cơ sở) b ng bột lá với khối lƣợng tƣơng ứng.
Cách này làm mức năng lƣợng và tỷ lệ protein thƣờng không cân đối. Tuy nhiên, cách phối hợp này sát với thực tiễn sản xuất và nó mang lại các lợi ích sau: Đơn giản, dễ làm, dễ áp dụng trong điều kiện nông hộ. Việc sử dụng bột lá keo giậu sẽ làm tăng độ đậm màu của da và thịt gà, đáp ứng đƣợc thị hiếu ngƣời tiêu dùng hiện nay. Hiện nay chƣa có kết quả nghiên cứu nào đánh giá và so sánh hiệu quả kinh tế của hai cách phối trộn bột lá keo giậu trên vào khẩu phần thức ăn của gà thịt.
Để làm rõ các vấn đề nêu trên, chúng tôi thực hiện đề tài: “Xác định hiệu quả của các cách thức bổ sung bột lá keo giậu vào khẩu phần của gà thịt giống Lượng Phượng”. Mục đíc của đề t Xác định đƣợc hiệu quả của hai cách bổ sung bột lá keo giậu vào khẩu phần có cân đối và không cân đối lại năng lƣợng, protein đối với gà thịt, từ kết quả thu đƣợc, khuyến cáo cách bổ sung bột lá thích hợp vào khẩu phần của gà thịt. Ý n ĩa k oa ọc v t ực t ễn của đề t * Ý nghĩa khoa học Đề tài sẽ làm giàu thêm kiến thức về sử dụng bột lá trong chăn nuôi gà. Kết quả nghiên cứu có thể đƣợc sử dụng cho giảng viên, sinh viên, cán bộ nghiên cứu tham khảo trong nghiên cứu các đề tài tƣơng tự.
* Ý nghĩa thực tiễn của đề tài Cách thức bổ sung bột lá thích hợp vào khẩu phần gà thịt sẽ đƣợc khuyến cáo trong sản xuất, góp phần nâng cao hiệu quả chăn nuôi. Đ ểm mớ của đề t Phối hợp bột lá vào khẩu phần có cân đối lại năng lƣợng và protein theo tiêu chuẩn năng lƣợng và protein trong thức ăn của gà thịt thƣờng đƣợc áp dụng trong nghiên cứu. Cách thức phối hợp này phù hợp trong nghiên cứu nhƣng chƣa thật phù hợp trong điều kiện sản xuất nông hộ. Đề tài này nghiên cứu hiệu quả của việc bổ sung bột lá theo cách khác, đó là thay thế một phần thức ăn hỗn hợp b ng bột lá, không có sự cân đối lại năng lƣợng, protein.
Nếu cách bổ sung này vẫn đạt đƣợc hiệu quả tốt thì việc áp dụng trong điều kiện chăn nuôi nông hộ sẽ đơn giản, dễ dàng hơn. 3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. G ớ t ệu về câ keo ậu (Leucaena) 1. Tên gọi Keo giậu là một loại cây thuộc bộ đậu, sinh sống ở vùng nhiệt đới, có tên khoa học là Leucaena leucocephala (Lam) de - Wit.
Tên gọi "Leucaena" là danh pháp quốc tế gọi chung cho loài cây này. Ngoài ra, keo giậu còn có các tên gọi khác, nhƣ: Leucaena glauca (Wind) Benth, Mimosa leucocephala Lam, Mimosa glauca L. Ở các quốc gia khác nhau, keo giậu còn có các tên gọi khác nhau. Ở Trung Mỹ, keo giậu có tên gọi là Huakin; Mexico và Tây Ban Nha gọi là Guaje; Philippine gọi là Ipil - ipil; Ấn Độ gọi là Kubabul hoặc Subabul; Indonexia gọi là Lamtoro; Hawaii gọi là kao haole; Trung Quốc gọi là Yin hue huan và quần đảo Thái Bình Dƣơng gọi là Tangantangan.
Ở Việt Nam, keo giậu đƣợc phân bố ở khắp nơi trên đất trung du và đồng b ng từ Bắc vào Nam, tỉnh nào cũng có keo giậu và keo giậu đã trở thành cây mọc tự nhiên ở một số địa phƣơng (Nguyễn Đăng Khôi, 1979) [12]. Ở các địa phƣơng khác nhau, keo giậu cũng có các tên gọi khác nhau. Miền Bắc gọi là Keo giậu; Miền Trung gọi là Táo nhơn; Miền Nam gọi là Bình linh. Nguồn gốc của cây keo giậu Các tài liệu nghiên cứu trên thế giới đều xác định keo giậu có nguồn gốc từ Trung Mỹ và Mexico (NAS, 1980) [68] và (NAS, 1984) [71].
Năm 1565, ngƣời Tây Ban Nha đã đƣa keo giậu từ Mexico vào Philippin để trồng làm thức ăn cho đàn dê của họ (Brewbaker, 1985) [34]; (Oakes, 1968) [75]. Cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX, keo giậu đã 4 đƣợc đƣa tới các nƣớc nhiệt đới ven bờ biển Thái Bình Dƣơng: Indonesia, Malaysia, Paypua New Guinea, Tây và Nam Phi (NAS, 1980) [69] và (NAS, 1984) [71]. Đông Nam Á là vùng phát triển keo giậu tƣơng đối sớm và nhiều. Những năm 70 của thế kỷ XX, các nƣớc Ấn Độ, Indonesia, Philippin, Thái Lan đã trồng nhiều keo giậu và sử dụng chúng nhƣ một nguồn thức ăn trong chăn nuôi.
Keo giậu là một loài cây có có biên độ sinh thái rộng, thích ứng với khí hậu vùng nhiệt đới (Sorensson, 1994) [84]. Ở Việt Nam, keo giậu đƣợc phân bố ở khắp nơi trên đất trung du và đồng b ng từ Bắc vào Nam, tỉnh nào cũng có keo giậu và keo giậu đã trở thành cây mọc tự nhiên ở một số địa phƣơng (Nguyễn Đăng Khôi, 1979) [12]. Năng suất chất xanh, bột lá Keo giậu là một loại cây sinh trƣởng rất nhanh trong vùng khí hậu nhiệt đới, nó đƣợc sử dụng nhƣ nguồn cung cấp củi, gỗ, ngoài ra còn đƣợc sử dụng nhƣ điều khiểu quá trình xói mòn của đất, bên cạnh đó cây keo giậu còn duy trì hàm lƣợng nitơ trong đất, nó còn là một nguồn dinh dinh dƣỡng cho gia súc. Cây keo giậu đƣợc sử dụng nhiều nhất cho dinh dƣỡng gia súc, gia cầm, bột lá của cây keo giậu giầu protein, khoáng và vitamin, cây keo giậu còn đƣợc biết đến nhƣ một nguồn nguyên liệu phổ biến đối gia cầm ở nƣớc nhiệt đới (D'Mello and Taplin, 1978) [38].
Theo NAS, 1984 [71] cho biết cây keo giậu có khả năng kết hợp với các loài vi khuẩn Rhizobium và nấm Mycorrhiza cộng sinh nên có thể chịu hạn, sử dụng có hiệu quả nƣớc và muối khoáng n m sâu trong đất, cũng nhƣ nitơ trong không khí để tạo ra bộ lá giàu protein, vitamin, khoáng vi lƣợng. NFTA, 1985 [73] cũng cho biết ở trong đất, các loài vi khuẩn này xâm nhập vào trong các rễ non của cây và nhân lên về số lƣợng để tạo nên các nốt sần trên bề mặt của rễ. Vi khuẩn Rhizobium có khả năng hấp thu một số lƣợng lớn nitơ trong không khí có ở 5 trong đất và chuyển hóa nó thành các hợp chất hữu cơ, vô cơ chứa nitơ. Hầu hết nitơ đƣợc cố định trong rễ cây đều tìm thấy trong lá và hạt của cây.
Gandara và cs (1986) [46] đã khuyến cáo nên sử dụng lá keo giậu nhƣ là một nguồn thức ăn trong khẩu phần ăn của bò thịt trong vụ đông. Những cánh đồng keo giậu có khả năng chống chịu tốt với sự khô hạn và thích ứng tốt trên các vùng khí hậu nhiệt đới khác nhau. NAS (1984) [72] đã cho biết, những cánh đồng keo giậu có lợi ích hơn bất cứ một cánh đồng cỏ nào và có tiềm năng trở thành ra một nguồn cung cấp chất xanh to lớn. Đây chính là một nguồn thức ăn quan trọng đối với động vật nhai lại, gia cầm và các loài động vật hoang dã khác và cá.
Trong những vùng nhiệt đới khô hạn, năng suất keo giậu giảm ở mùa khô. Ngoài ra, năng suất keo giậu còn bị ảnh hƣởng bởi yếu tố giống (Shih và Hu, 1981) [82]; (Hu và Kiang, 1982) [58], mật độ cây trồng (Savory, 1979) [80], tần số khai thác và chiều cao thu hoạch của cây. NAS (1984) [71] cho biết, năng suất và chất lƣợng keo giậu tƣơi đạt mức tối ƣu ở chế độ gieo trồng và thu hoạch nhƣ sau: mật độ là 100.000 cây/ha; độ cao thu hoạch của cây là 60 - 70 cm; chu kỳ thu hoạch là 50 - 60 ngày. Với chế độ gieo trồng và thu hoạch nhƣ trên, trong điều kiện thời tiết tƣơng đối thuận lợi, năng suất keo giậu đạt 12 - 14 tấn VCK/ha/năm.
Lê Hòa Bình và cs (1990) [2] đã khảo sát năng suất của các giống keo giậu Ipil - ipil, Đồng Mô, Ba Vì hạt lớn, Ba Vì hạt nhỏ, Peru và Ấn Độ. Kết quả khảo sát cho thấy, các giống Ba Vì hạt lớn, Ipil - ipil và Ấn Độ cho năng suất chất xanh cao, lần lƣợt là 45,05; 43,35 và 40,20 tấn/ha/năm, tƣơng đƣơng khoảng 10. Tuy nhiên, về mùa khô keo giậu sinh trƣởng kém, chỉ đạt gần 50% so với mùa mƣa. Riêng giống Ba Vì hạt lớn, sinh trƣởng ở mùa đông có ƣu thế hơn các giống khác.
6 Nguyễn Bách Việt (1994) [24] đã cho biết năng suất VCK của keo giậu Peru trồng tại Trại thực tập Trƣờng đại học Nông nghiệp I - Hà Nội ở năm đầu là 10,12 tấn/ha; năm thứ hai là 12,46 tấn/ha Từ Quang Hiển (1994) [7] cũng cho biết, keo giậu L. glauca trồng tại Trại thực tập Trƣờng đại học Nông lâm Thái Nguyên, trên đất có độ phì thấp, pH = 5,6, đƣợc bón lót ở năm thứ nhất: 15 tấn phân chuồng + 40 kg N + 60 kg P2O5 + 40 kg K2O + 1 tấn vôi/ha và năm thứ hai bón thêm: 40 kg P2O5 + 20 kg K2O + 0,2 tấn vôi/ha (số lƣợng này đƣợc chia ra để bón thúc sau mỗi lứa cắt) đã cho năng suất năm đầu đạt 9,5 tấn VCK/ha, tƣơng đƣơng với 7.800 đơn vị thức ăn và 2,3 tấn protein thô; năng suất năm thứ hai đạt 11,5 tấn VCK/ha, tƣơng đƣơng với 9.500 đơn vị thức ăn và 2,86 tấn protein thô. Nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Hà (1996) [6] cho thấy giống keo giậu Cunningham trồng tại Từ Liêm – Hà Nội có năng suất chất xanh trong mùa Hè – Thu cao hơn rõ rệt so với mùa Thu – Đông (44,39 so với 14,91 tấn/ha/năm).