Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm công nghiệp, khoa học kỹ thuật, thương mại và văn hóa lớn của cả nước. Bước vào giai đoạn 2009 - 2010, thành phố ghi nhận quy mô dân số vượt mức 7,1 triệu người, kéo theo tốc độ đô thị hóa, hiện đại hóa diễn ra nhanh chóng. Tuy nhiên, sự gia tăng áp lực dân số và phương tiện giao thông (khoảng 5 triệu xe cơ giới hoạt động mỗi ngày) đã gây mất cân bằng sinh thái môi trường sống, làm bùng phát tình trạng ô nhiễm không khí do bụi lơ lửng, khí thải độc hại ($SO_2$, $CO$, $NO_2$, chì) và tiếng ồn đô thị.

Trong bối cảnh quỹ đất tự nhiên bị bê tông hóa và diện tích vườn tược nông nghiệp bị thu hẹp bởi các khu dân cư, khu công nghiệp mới, diện tích mảng xanh nội đô đang rơi vào tình trạng thiếu hụt nghiêm trọng. Tỷ lệ diện tích cây xanh bình quân trên đầu người tại TP. Hồ Chí Minh chỉ đạt mức 2,3 $\text{m}^2/\text{người}$, thấp hơn rất nhiều so với tiêu chuẩn quy chuẩn đô thị đặc biệt (12 - 15 $\text{m}^2/\text{người}$) và thua kém đáng kể so với các thành phố lớn trên thế giới (Berlin đạt 50 $\text{m}^2/\text{người}$, Moscow đạt 44 $\text{m}^2/\text{người}$, Paris đạt 25 $\text{m}^2/\text{người}$, London đạt 9 $\text{m}^2/\text{người}$). Thực trạng này đặt ra yêu cầu cấp bách phải đánh giá hiện trạng và xây dựng định hướng quy hoạch mảng xanh bài bản.

Mục tiêu chính của đề tài là nghiên cứu, đánh giá có hệ thống hiện trạng về chất lượng và số lượng hệ thống cây xanh công cộng tại 13 quận nội thành TP. Hồ Chí Minh; xác định các cơ sở khoa học và thực tiễn để xây dựng giải pháp phát triển mảng xanh, nâng cao chất lượng cảnh quan môi trường; đồng thời đề xuất các biện pháp duy trì, bảo tồn và định hướng phát triển hệ thống cây xanh đến năm 2025.

Để đạt được mục tiêu trên, khóa luận xác định 5 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Nghiên cứu tổng quan về hiện trạng cây xanh ở các đô thị Việt Nam.
  2. Nghiên cứu tổng quan về hệ thống cây xanh TP. Hồ Chí Minh, tập trung vào khu vực nội thành.
  3. Nghiên cứu tình trạng suy thoái của hệ thống cây xanh vùng nội thành TP. Hồ Chí Minh.
  4. Đề xuất các giải pháp phát triển và bảo tồn mảng xanh khu vực nội thành và ngoại vi.
  5. Xây dựng định hướng phát triển hệ thống cây xanh đô thị thành phố đến năm 2025.

Phạm vi và đối tượng nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống cây xanh công cộng đô thị, bao gồm hai hợp phần trọng yếu là cây xanh đường phố và cây xanh công viên (vườn hoa, thảm cỏ).
  • Phạm vi không gian: 13 quận thuộc khu vực nội thành TP. Hồ Chí Minh (xác định theo địa giới hành chính năm 1997), bao gồm: Quận 1, Quận 3, Quận 4, Quận 5, Quận 6, Quận 8, Quận 10, Quận 11, Bình Thạnh, Phú Nhuận, Gò Vấp, Tân Bình và Tân Phú.
  • Phạm vi thời gian: Thu thập chuỗi dữ liệu khí tượng, môi trường và hiện trạng giai đoạn 2000 - 2009, từ đó đề xuất định hướng quy hoạch đến năm 2025.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận tiếp cận đối tượng nghiên cứu dựa trên khái niệm lâm nghiệp đô thị và hệ thống phân loại cây xanh đô thị. Theo đó, lâm nghiệp đô thị được hiểu là chuyên ngành kỹ thuật - môi trường liên quan đến việc trồng, bảo quản và quản lý cây xanh cùng quần thể thực vật trong khu vực đô thị nhằm phục vụ các mục tiêu sinh thái, điều hòa khí hậu và cảnh quan kiến trúc. Cây xanh đô thị được phân chia thành: cây xanh công cộng (đường phố, công viên, vườn hoa), cây xanh khuôn viên (công sở, trường học, bệnh viện, nhà ở), cây xanh ven kênh rạch, mảng xanh thời vụ, cùng hệ thống danh mục cây cấm trồng, cây hạn chế trồng và cây nguy hiểm.

Nghiên cứu quán triệt 4 quan điểm địa lý học nền tảng:

  • Quan điểm hệ thống: Đánh giá hệ thống mảng xanh trong mối quan hệ đa chiều giữa cấu trúc bên trong (loài, tầng tán, mật độ) và các thành phần ngoại cảnh (giao thông, hạ tầng kỹ thuật ngầm, môi trường xây dựng).
  • Quan điểm lịch sử - viễn cảnh: Xem xét nguồn gốc phát triển của hệ thống cây xanh từ thời kỳ quy hoạch Sài Gòn xưa đến nay, nhằm giải thích cấu trúc hiện tại và dự báo xu hướng biến đổi trong tương lai.
  • Quan điểm sinh thái và phát triển bền vững: Định hướng giải pháp khai thác, phát triển kinh tế - xã hội gắn liền với bảo vệ lá phổi xanh, không làm tổn hại đến chất lượng môi trường sống của cư dân.
  • Quan điểm tổng hợp: Phân tích sự tác động qua lại giữa các hợp phần tự nhiên (khí hậu, địa hình, thổ nhưỡng, thủy văn) và điều kiện nhân văn để đưa ra phương án cây trồng tối ưu.

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm:

  • Phương pháp thu thập, xử lý và phân tích - tổng hợp tài liệu: Xử lý nguồn dữ liệu văn bản, báo cáo kỹ thuật, tài liệu thống kê từ các cơ quan chuyên môn như Cục Thống kê TP. Hồ Chí Minh, Chi cục Bảo vệ Môi trường, Chi cục Lâm nghiệp, Phân viện Nghiên cứu Bảo hộ Lao động, Công ty Công viên Cây xanh và Sở Giao thông Vận tải.
  • Phương pháp bản đồ và viễn thám: Phân tích bản đồ hành chính, địa hình, thổ nhưỡng, khí hậu kết hợp tư liệu ảnh hàng không, ảnh vệ tinh chụp TP. Hồ Chí Minh để số hóa và biểu diễn trực quan hiện trạng phân bố không gian xanh.
  • Phương pháp khảo sát thực địa: Quan sát thực tế mạng lưới cây xanh trên các tuyến đường trọng điểm và hệ thống công viên thuộc 13 quận nội thành; đối chiếu tư liệu phòng thí nghiệm với thực tế sinh trưởng của cây xanh và tham khảo ý kiến chuyên gia lâm sinh.
  • Phương pháp dự báo: Phân tích các kịch bản tăng trưởng dân số và áp lực phát triển đô thị để dự báo nhu cầu không gian xanh đến năm 2025.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài

Chương 1 hệ thống hóa các khái niệm chuyên ngành về cây xanh đô thị, cấu trúc không gian xanh nội thành (cây xanh đường phố, cây xanh công viên, cây xanh khuôn viên) và ngoại thành (rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, cây phân tán). Tác giả làm rõ chức năng sinh thái - xã hội của mảng xanh:

  • Khả năng điều hòa khí hậu và cải thiện vi khí hậu: Hoạt động quang hợp giúp duy trì nồng độ $CO_2$ trong khí quyển ở mức khoảng 0,03%, ngăn ngừa hiện tượng tích tụ khí độc. Cơ chế thoát hơi nước qua 50 - 500 lỗ khí/$\text{mm}^2$ lá cây giúp hạ nhiệt độ môi trường xung quanh (để tạo ra 1g chất khô, lá cây thoát từ 300 - 1000g nước; một cây thân gỗ lớn có thể thoát tới 1 tấn nước mỗi ngày).
  • Thanh lọc không khí và hấp thụ khí độc: Nghiên cứu dẫn chứng số liệu của Phân viện Nghiên cứu Bảo hộ Lao động chứng minh nồng độ bụi và khí độc hại ($SO_2$, $CO$) tại các khu vực công viên tập trung (như Thảo Cầm Viên, Công viên Văn Hóa Đầm Sen) thấp hơn đáng kể so với nồng độ trung bình toàn nội thành.
  • Các vai trò khác: Hạn chế tiếng ồn thông qua sự phản xạ tán xạ âm thanh qua nhiều tầng lá; cản gió hại trên các tuyến lộ giao thông; giữ đất, chống xói lở bờ kênh rạch khi triều cường; nâng cao giá trị thẩm mỹ kiến trúc và phục hồi sức khỏe tâm lý cho cư dân.

Bên cạnh đó, chương này phân tích 6 yếu tố tác động tiêu cực đến sự sinh trưởng của cây xanh đô thị:

  1. Khí hậu: Bức xạ nhiệt phản xạ từ mặt đường bê tông làm tăng nhiệt độ tán lá và tăng tốc độ bốc thoát hơi nước.
  2. Môi trường nước: Bề mặt đô thị bị bê tông hóa khiến phần lớn nước mưa chảy tràn vào cống thoát nước, hạn chế khả năng thẩm thấu bổ cập nước ngầm nuôi rễ.
  3. Môi trường đất: Đất nội đô bị nén chặt, thiếu dinh dưỡng, nhiễm độc chất và rác thải xây dựng, cản trở sự phát triển của hệ rễ.
  4. Ánh sáng: Sự can thiệp của chiếu sáng nhân tạo công suất lớn từ đèn cao áp làm rối loạn chu kỳ sinh trưởng tự nhiên.
  5. Ô nhiễm không khí: Lượng bụi lắng đọng làm tắc nghẽn lỗ khí khổng của lá, khói thải chứa chì và oxit lưu huỳnh gây ức chế quang hợp.
  6. Sâu bệnh: Các loại nấm mốc, rầy nâu và côn trùng đục thân gây hiện tượng rỗng ruột thân cây, làm gia tăng nguy cơ ngã đổ mùa mưa bão.

Chương 2: Hiện trạng cây xanh đô thị ở vùng nội thành TP. Hồ Chí Minh

Chương 2 phân tích bức tranh tổng thể về cây xanh đô thị tại Việt Nam và đi sâu vào hiện trạng khu vực nội thành TP. Hồ Chí Minh:

  • Tổng quan cây xanh đô thị Việt Nam: Hệ thống mảng xanh tại các đô thị nhìn chung còn tự phát, chỉ tiêu diện tích đất cây xanh bình quân rất thấp (trung bình toàn quốc khoảng 0,5 $\text{m}^2/\text{người}$; Hà Nội đạt 2 $\text{m}^2/\text{người}$; Biên Hòa dưới 1 $\text{m}^2/\text{người}$; Cần Thơ có trên 7.000 cây công cộng nhưng cơ cấu loài chưa chuẩn hóa; cá biệt có thành phố Huế đạt 10,2 $\text{m}^2/\text{người}$).
  • Điều kiện tự nhiên và nhân văn TP. Hồ Chí Minh: Địa hình bằng phẳng nghiêng dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam; khí hậu nhiệt đới gió mùa với lượng bức xạ 140 $\text{Kcal/cm}^2/\text{năm}$, lượng mưa trung bình năm đạt 1.949 mm. Dân số nội thành tập trung cao độ (mật độ toàn thành phố năm 2008 là 3.419 người/$\text{km}^2$, riêng Quận 5 lên tới 49.440 người/$\text{km}^2$), dẫn đến tình trạng ô nhiễm không khí cục bộ nghiêm trọng (89% giá trị quan trắc bụi lơ lửng không đạt chuẩn; nồng độ chì dao động từ 0,22 - 0,45 $\mu\text{g/m}^3$).
  • Lịch sử phát triển và phân bố: Cây xanh đường phố được người Pháp quy hoạch từ năm 1863 - 1865 (ban đầu trồng me với cự ly dày 5m/cây, sau đó điều chỉnh thành 10m/cây vào năm 1912). Mặc dù toàn thành phố có tỷ lệ che phủ mảng xanh đạt khoảng 38% (nhờ 43.000 ha rừng tại Cần Giờ và Củ Chi), nhưng mảng xanh này nằm cách xa trung tâm từ vài chục đến 60 km, không hỗ trợ trực tiếp cho vùng lõi.
  • Thực trạng nội thành 13 quận:
    • Tổng diện tích mảng xanh nội thành đạt 28.082 $\text{m}^2$; tổng số cây xanh công cộng là 82.121 cây. Tỷ lệ cây xanh công cộng bình quân chỉ đạt 0,015 cây/người (tương đương 66 người dân mới có 1 cây xanh công cộng, trong khi tỷ lệ này tại Paris là 0,2 cây/người - tức 5 người/cây).
    • Toàn nội thành có 113 công viên, vườn hoa và thảm cỏ với tổng quy mô 238,68 ha (chỉ chiếm 1,7% diện tích tự nhiên 13 quận). Các công viên lớn quy mô trên 10 ha (Thảo Cầm Viên, Tao Đàn, Gia Định, Hoàng Văn Thụ, Kỳ Hòa, Lê Văn Tám) đều được hình thành trước năm 1975 để phục vụ quy mô dân số 2 triệu người, nay trở nên quá tải trước dân số hơn 7 triệu người.
    • Áp lực xây dựng cao ốc và khu dân cư mới làm biến mất nhiều vườn cây lâu năm; nhiều cụm chung cư tái định cư (như Phạm Viết Chánh, Ngô Tất Tố, khu Khánh Hội) thiếu vắng hoàn toàn diện tích công viên đạt chuẩn.

Chương 3: Định hướng phát triển cây xanh đô thị đến năm 2025

Chương 3 xây dựng khung giải pháp và định hướng quy hoạch mảng xanh vùng nội thành đến năm 2025:

  • Căn cứ và nguyên tắc quy hoạch: Bám sát quy hoạch không gian tổng thể TP. Hồ Chí Minh đến năm 2020 - 2025, tuân thủ tiêu chuẩn đất cây xanh cho đô thị loại đặc biệt.
  • Giải pháp phát triển cây xanh đường phố:
    • Xác định mục tiêu nâng cấp đồng bộ mạng lưới cây xanh trên các trục lộ chính và đường nội bộ; quy định rõ tiêu chuẩn chọn giống cây: thân thẳng, tán cân đối, rễ ăn sâu không phá hoại vỉa hè và hạ tầng ngầm cáp điện, lá xanh quanh năm, không tiết nhựa độc, hoa quả không gây mùi khó chịu.
    • Loại bỏ và thay thế dần các loài cây thuộc danh mục cấm hoặc hạn chế (như cây bàng làm nứt vỉa hè, rụng lá bẩn; cây bã đậu có độc tính; cây phượng vĩ già cỗi dễ mục rỗng, gãy đổ).
  • Quy hoạch hệ thống công viên cây xanh:
    • Phân loại định hướng cho hai khu vực: Khu vực nội thành hiện hữu (13 quận cũ) tập trung cải tạo, nâng cấp các công viên trung tâm, tận dụng quỹ đất giải tỏa ven kênh rạch để tạo dải công viên tuyến tính; Khu vực nội thành mở rộng (6 quận mới) quy hoạch các khu công viên sinh thái, công viên chuyên đề quy mô lớn đón đầu đô thị hóa.
  • Quy hoạch bảo tồn thực vật đặc thù:
    • Lập danh mục bảo tồn nghiêm ngặt đối với hệ thống cây cổ thụ, cây di sản có tuổi thọ trên 100 năm tại các công viên trọng điểm (Thảo Cầm Viên, Tao Đàn).
    • Bảo tồn các loài cây quý hiếm, cây gắn liền với di tích lịch sử - văn hóa tại khuôn viên đình, chùa, bệnh viện lâu đời (Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch, Bệnh viện Nguyễn Trãi) và các trường học danh tiếng (THPT Lê Quý Đôn, Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai).

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp hệ thống chỉ tiêu định lượng phản ánh thực trạng phân bố mảng xanh tại TP. Hồ Chí Minh trong tương quan với các đô thị khác:

Đô thị / Khu vực Diện tích mảng xanh bình quân ($\text{m}^2/\text{người}$) Số lượng cây xanh công cộng bình quân (cây/người) Đặc điểm phân bố và chất lượng
Nội thành TP. Hồ Chí Minh 2,3 0,015 (66 người/cây) Mảng xanh tập trung ở công viên cũ; thiếu hụt tại các khu chung cư mới; mật độ không đều giữa các quận
Hà Nội 2,0 - 3,5 Chưa đồng bộ Mật độ khu phố cổ rất thấp (0,2 $\text{m}^2/\text{người}$); tỷ lệ che phủ 6,3%
Đà Nẵng 0,5 Thấp Tỷ lệ đất dành cho cây xanh chưa tương xứng đô thị loại I
Huế 10,2 Cao Mảng xanh gắn liền với kiến trúc cảnh quan di sản
Biên Hòa < 1,0 Rất thấp Cây xanh thưa thớt trên các trục lộ; khu công nghiệp cũ thiếu mảng xanh
Paris (Pháp) 25,0 0,200 (5 người/cây) Hệ thống cây xanh đường phố và công viên phân bố đồng đều
Berlin (Đức) 50,0 Cao Diện tích rừng đô thị và công viên sinh thái lớn
Moscow (Nga) 44,0 Cao Vành đai xanh bảo vệ đô thị phát triển hoàn chỉnh

Các đóng góp chính của đề tài:

  • Về mặt khoa học: Hệ thống hóa cơ sở lý luận lâm nghiệp đô thị dưới góc độ địa lý học sinh thái; phân tích toàn diện các nhân tố vi khí hậu, thổ nhưỡng và ô nhiễm tác động trực tiếp đến tuổi thọ của thảm thực vật nội đô.
  • Về mặt dữ liệu: Cung cấp bộ dẫn liệu điều tra hiện trạng về số lượng (82.121 cây xanh công cộng), quy mô (113 công viên với 238,68 ha) và phân loại chi tiết hiện trạng mảng xanh của 13 quận nội thành TP. Hồ Chí Minh năm 2008 - 2010.
  • Về mặt ứng dụng: Đề xuất khung tiêu chí lựa chọn cây xanh đường phố và thiết lập danh mục cây cổ thụ cần bảo tồn nghiêm ngặt tại các di tích, công trình tôn giáo, bệnh viện và trường học trên địa bàn thành phố.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do giới hạn về thời gian và phạm vi nghiên cứu của khóa luận tốt nghiệp bậc cử nhân, đề tài chỉ tập trung khảo sát 13 quận nội thành cũ (chưa mở rộng điều tra định lượng chi tiết cho toàn bộ 24 quận, huyện); đối tượng khảo sát chủ yếu là cây xanh công cộng (đường phố, công viên), chưa thu thập đầy đủ số liệu diện tích xanh trong khuôn viên đất tư nhân và hộ gia đình.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần mở rộng phạm vi nghiên cứu sang 6 quận mới và các huyện ngoại thành; ứng dụng hệ thống thông tin địa lý (GIS) và dữ liệu viễn thám độ phân giải cao để giám sát biến động diện tích thảm thực vật theo thời gian thực; xây dựng mô hình định lượng hóa giá trị kinh tế - môi trường của hệ sinh thái mảng xanh đô thị.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên và giảng viên các chuyên ngành Địa lý học, Quy hoạch đô thị, Quản lý tài nguyên và môi trường, Lâm nghiệp đô thị khi tìm hiểu về phương pháp đánh giá thực trạng mảng xanh đô thị.
  • Các nhà nghiên cứu và cơ quan quản lý kỹ thuật đô thị (Công ty Công viên Cây xanh, Sở Giao thông Vận tải) tham khảo cơ sở dữ liệu lịch sử về chủng loại, mật độ và phân bố cây xanh đường phố tại TP. Hồ Chí Minh.
  • Phần đáng tham khảo nhất là hệ thống tiêu chuẩn tuyển chọn giống cây trồng đường phố và danh mục phân loại thực vật bảo tồn trong các công trình công cộng tại Chương 3.

Câu hỏi thường gặp

1. Chỉ số cây xanh công cộng bình quân đầu người tại vùng nội thành TP. Hồ Chí Minh theo văn bản đạt bao nhiêu? Theo số liệu thống kê trong khóa luận, vùng nội thành TP. Hồ Chí Minh có tổng cộng 82.121 cây xanh công cộng, đạt tỷ lệ bình quân 0,015 cây/người (tương đương 66 người dân thành phố mới có 1 cây xanh công cộng). Diện tích đất cây xanh bình quân đạt khoảng 2,3 $\text{m}^2/\text{người}$.

2. Vì sao diện tích rừng lớn tại Cần Giờ và Củ Chi không phát huy nhiều tác dụng cải thiện vi khí hậu cho vùng trung tâm? Mặc dù diện tích rừng và đất lâm nghiệp ngoại thành lên tới 43.000 ha (giúp nâng tỷ lệ mảng xanh toàn thành phố lên 38%), nhưng các khu vực này phân bố quá xa trung tâm (rừng ngập mặn Cần Giờ cách hàng chục km, rừng Củ Chi cách trung tâm tới 60 km), do đó khả năng điều hòa vi khí hậu và giảm nhiệt cho vùng lõi 13 quận nội thành gần như không đáng kể.

3. Văn bản chỉ ra những yếu tố tự nhiên và nhân tạo nào gây suy thoái cây xanh đô thị? Các yếu tố chính gồm: nhiệt độ bề mặt tăng cao do bức xạ nhiệt từ bê tông; bề mặt đường nhựa ngăn nước mưa ngấm xuống đất; môi trường đất bị nén chặt, nghèo dưỡng chất và ô nhiễm; ánh sáng nhân tạo từ đèn cao áp làm rối loạn quang kỳ; khói bụi xe cộ ($NO_2$, $SO_2$, $CO$, chì) bám vào lá ngăn cản quang hợp; cùng sự tấn công của nấm mốc và côn trùng gây rỗng ruột thân cây.

4. Vì sao các loài cây như bàng, bã đậu hay phượng vĩ bị đề nghị hạn chế hoặc thay thế trên đường phố? Cây bàng có hệ rễ phát triển nổi làm nứt vỡ vỉa hè, rụng lá nhiều gây mất vệ sinh; cây bã đậu chứa độc tố nguy hiểm đối với con người; trong khi cây phượng vĩ có đặc tính tán lá thưa không tạo đủ bóng mát quanh năm, thân gỗ giòn dễ bị mục rỗng và ngã đổ trong mùa mưa bão.

5. Lịch sử trồng cây xanh đường phố tại Sài Gòn bắt đầu từ khi nào và có sự điều chỉnh cự ly ra sao? Cây me bắt đầu được người Pháp cho trồng dọc các đường phố Sài Gòn từ khoảng năm 1863 - 1865 với cự ly ban đầu rất dày (5m một cây). Đến năm 1912, do cây phát triển um tùm gây ẩm mốc nhà cửa và ảnh hưởng vệ sinh, Hội đồng thành phố đã quyết định điều chỉnh khoảng cách trồng giãn ra thành 10m một cây.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Thư đã cung cấp bức tranh toàn diện và hệ thống về thực trạng mảng xanh công cộng tại 13 quận nội thành TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2008 - 2010. Bằng việc phân tích các dẫn liệu khí tượng, môi trường và cấu trúc lâm nghiệp đô thị, công trình đã làm rõ sự thiếu hụt nghiêm trọng về không gian xanh trước áp lực gia tăng dân số và đô thị hóa. Hệ thống giải pháp quy hoạch cây xanh đường phố, công viên và danh mục bảo tồn thực vật cổ thụ được đề xuất trong tài liệu mang giá trị khoa học và thực tiễn cao, đóng góp cơ sở dữ liệu quan trọng cho công tác quy hoạch phát triển bền vững không gian đô thị thành phố đến năm 2025.