Phần mở đầu, Kết luận, luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1. Những vấn đề lí luận chung về hết quyền SHTT trong nhập khẩu song song Chƣơng 2. Quy định về hết quyền SHTT trong nhập khẩu song song theo pháp luật Việt Nam Chƣơng 3. Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về hết quyền SHTT trong nhập khẩu song song 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1.
NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ HẾT QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ TRONG NHẬP KHẨU SONG SONG 1.1 Khái quát chung về bảo hộ quyền SHTT Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế, cùng với sự phát triển không ngừng của khoa học và công nghiệp, vấn đề quyền sở hữu đối với tài sản trí tuệ (sau đây gọi là quyền SHTT) ngày càng khẳng định vị trí và tầm quan trọng của mình trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Mặc dù thuật ngữ quyền SHTT vẫn còn là một khái niệm pháp lí mơ hồ đối với nhiều ngƣời, song mức độ sử dụng thuật ngữ này đang ngày càng gia tăng, cùng với sự lan tỏa nhanh chóng của các vấn đề liên quan đến quyền SHTT. Tài sản trí tuệ là yếu tố cơ bản hình thành quyền SHTT. Tài sản trí tuệ đƣợc hiểu là những thành quả do trí tuệ con ngƣời tạo ra thông qua hoạt động sáng tạo đƣợc thừa nhận là tài sản.
Giống nhƣ các loại tài sản vật chất khác, tài sản trí tuệ có thể đƣợc mua, bán, cho phép sử dụng, trao đổi… Song, điểm khác biệt cơ bản nhất giữa tài sản trí tuệ với các loại tài sản vật chất đó chính là tính vô hình của tài sản trí tuệ. Tài sản trí tuệ là vô hình bởi vì nó chính là những thông tin đƣợc kết hợp chặt chẽ với nhau trong những vật thể hữu hình. Quyền sở hữu trong trƣờng hợp này không phải là quyền đối với bản thân các vật thể hữu hình này, mà chính là những thông tin chứa đựng trong đó. Khác với với quyền sở hữu tài sản vật chất, nội dung quyền SHTT không bao gồm quyền chiếm hữu.
Trước hết, quyền chiếm hữu đối với tài sản là không có ý nghĩa, do đó không cần thiết. Đặc tính vô hình và bản chất thông tin – tri thức của tài sản trí tuệ khiến cho loại đối tƣợng này có khả năng lan truyền (từ ngƣời này sang ngƣời khác, từ nơi này đến nơi khác) một cách vô giới hạn và có thể hiện diện đồng thời ở nhiều nơi mà không duy nhất nhƣ tài sản hữu hình. Việc một ngƣời nắm bắt (chiếm hữu) tài sản trí tuệ không cản trở, không làm phƣơng hại đến việc chiếm hữu của chủ sở hữu. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thứ hai, các tài sản trí tuệ còn có đặc tính sáng tạo – đổi mới.
Mỗi tài sản trí tuệ đều là một đối tƣợng mới hoặc đƣợc bổ sung cái mới (đƣợc cải tiến). Để tạo ra cái mới đó, con ngƣời phải nắm đƣợc thông tin và tri thức liên quan. Vì thế, chiếm hữu tri thức, thông tin là nhu cầu đồng thời là quyền của tất cả mọi ngƣời, là nền tảng bảo đảm cho hoạt động sáng tạo. Độc quyền chiếm hữu tài sản trí tuệ đi ngƣợc nhu cầu phát triển của xã hội.
Mặt khác, việc thực hiện quyền chiếm hữu tài sản trí tuệ nói chung là khó khăn và không thể. Cách duy nhất để kiểm soát quyền chiếm hữu loại tài sản này là giữnó trong vòng bí mật. Điều này không những mâu thuẫn với quyền sử dụng mà còn mâu thuẫn với ý nghĩa, mục đích sở hữu tài sản trí tuệ. Tài sản trí tuệ chỉ mang lại giá trị (thu nhập) nếu đƣợc khai thác, sử dụng, chuyển giao, nhƣng chính các hoạt động đó lại bộc lộ bản chất của tài sản trí tuệ.
Giữ bí mật bản chất tài sản trí tuệ nghĩa là không thể sử dụng tài sản trí tuệ đó. Với những lý do nói trên, nội dung quyền SHTT chỉ bao gồm quyền sử dụng và quyền định đoạt. Quyền sử dụng thuộc nội dung quyền SHTT lại bao gồm nhiều nội dung cụ thể tuỳ theo loại tài sản trí tuệ (đối tƣợng SHTT) và đƣợc phân chia cho các chủ thể khác nhau một cách thích hợp. Một số trong các nội dung quyền nói trên có thể đƣợc chuyển giao, để thừa kế nhƣng có nội dung thì chỉ thuộc về một chủ thể mà không thể chuyển giao hoặc thừa kế.
Các quyền nhƣ vậy lại đƣợc chia thành quyền nhân thân và quyền tài sản nhƣ các quyền dân sự khác. Trong các nội dung đó, có một nội dung đặc biệt đáng chú ý là quyền ngăn cấm ngƣời khác sử dụng quyền của chủ thể. Chính sự đặc biệt khi chủ thể có quyền ngăn cấm ngƣời khác sử dụng tài sản trí tuệ của mình đã hình thành nên chế định pháp luật về bảo hộ quyền SHTT.1 Khái niệm bảo hộ quyền SHTT Bảo hộ tại sản trí tuệ và bảo hộ quyền SHTT (gọi chung là bảo hộ SHTT) là việc Nhà nƣớc sử dụng công cụ pháp lí và quyền lực bảo đảm cho các chủ sở 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hữu tài sản trí tuệ thực thi các quyền đối với tài sản trí tuệ của họ, ngăn chặn và xử lí các hành vi xâm phạm tài sản/quyền do ngƣời thứ ba thực hiện. Sự cần thiết phải có cơ chế bảo hộ quyền SHTT đƣợc lí giải bởi những lí do sau: Thứ nhất, tài sản trí tuệ đóng vai trò ngày càng quan trọng đối với sự phát triển của các doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế.
Tỉ trọng giá trị của tài sản trí tuệ và tài sản vô hình nói chung trong tổng số giá trị tài sản của doanh nghiệp/nền kinh tế ngày càng cao. Tại một số doanh nghiệp và một số nƣớc, tỉ lệ đó đã vƣợt quá 50%. Phát triển tài sản trí tuệ đã và đang là hƣớng dầu tƣ phát triển ƣu tiên; tài sản trí tuệ trở thành yếu tố cạnh tranh quan trọng nhất và là động lực của sự phát triển. Có thể lấy một ví dụ nhỏ để minh chứng cho điều này.
Từ cách đây 20 năm, tức là vào năm 1997, nhãn hiệu Coca – Cola đƣợc ƣớc tính giá trị 65,7 tỉ đô la; trong khi đó dựa theo báo cáo tài chính của tập đoàn này thì giá trị tài sản vô hình (tức là nhãn hiệu Coca - Cola) chỉ chiếm 3,7 tỉ đô la. Sự khác biệt rất lớn này cho thấy, giá trị của một doanh nghiệp trên thị trƣờng đƣợc quyết định phần nhiều bởi tài sản vô hình mà doanh nghiệp đó nắm giữ. Xu thế này đã khác so với nhiều thập niên trƣớc, khi mà máy móc và công cụ sản xuất mới là tài sản chính của doanh nghiệp. Thứ hai, đầu tƣ để tạo ra và phát triển tài sản trí tuệ là dạng đầu tƣ tốn kém, mất nhiều thời gian và chứa đựng rủi ro.
Trong khi đó, nguy cơ tài sản trí tuệ bị chiếm đoạt/khai thác bất hợp lí là nguy cơ thƣờng xuyên và rất hay xảy ra. Bản chất của tài sản trí tuệ là vô hình nhƣng lại có đặc điểm là khả năng lan truyền không giới hạn, rất dễ bị sao chép, bắt chƣớc, sử dụng… nhất là trong điều kiện công nghệ, kĩ thuật để thực hiện việc sao chép ngày càng cao. Những mối lợi khổng lồ do việc khai thai bất hợp pháp các tài sản trí tuệ mang lại là động lực thúc đẩy các hành vi phạm pháp. Việc khai thác trái phép trên thực tế lại rất khó để phát hiện và xử lí.
Số lƣợng các vụ xâm phạm về nhãn hiệu, về tên thƣơng mại, về tên miền… là rất phổ biến. Tuy nhiên việc điều tra và xử lí 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com những vụ việc này thì chƣa đƣợc chú trọng nhƣ những lĩnh vực dân sự khác. Thêm vào đó, cơ chế xử lí đối với những vụ việc xâm phạm quyền SHTT cũng chỉ mang tính chất cảnh cáo chứ chƣa thực sự tƣơng xứng với những lợi ích mà chủ thể vi phạm đã đạt đƣợc. Thứ ba, bản thân các chủ sở hữu tài sản trí tuệ không có khả năng tự mình bảo vệ tài sản trí tuệ của họ trƣớc nguy cơ xâm phạm.
Kết quả dẫn đến nếu không có biện pháp hữu hiệu chống lại các hành vi vi phạm tài sản/quyền SHTT thì động lực sáng tạo và phát triển bị thủ tiêu, cạnh trạnh trở thành không lành mạnh. Mục tiêu của việc bảo hộ SHTT là bảo vệ các kết quả đầu tƣ sáng tạo, thúc đẩy các hoạt động đổi mới, bảo đảm cạnh tranh công bằng, trung thực, từ đó tạo ra động lực cho phát triển. Hiện nay ở các quốc gia trên thế giới cũng nhƣ Việt Nam, các biện pháp xử lí vi phạm về SHTT có thể chia thành 5 nhóm biện pháp chính: (1) Biện pháp tự bảo vệ (2) Biện pháp dân sự (3) Biện pháp hành chính (4) Biện pháp hình sự (5) Kiểm soát hàng hóa xuất nhập khẩu Trong các biện pháp nói trên, kiểm soát hàng hóa xuất nhập khẩu và biện pháp hành chính là đƣợc sử dụng phổ biến hơn. Tuy nhiên có thể thấy rằng, để có thể bảo vệ đƣợc quyền SHTT, chủ thể nắm giữ quyền cần bỏ ra những chi phí không hề nhỏ.
Kể từ khâu đăng kí cho đến việc duy trì hiệu lực của các văn bằng bảo hộ; sau đó đến các biện pháp mang tính “phòng vệ” nhƣ kiểm soát tại cửa khẩu… Tất cả những giai đoạn này đều đỏi hỏi chủ thể nắm giữ quyền bỏ ra chi phí. Đây cũng là một điều khó khăn đặc thù trong lĩnh vực này. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nội dung quyền SHTT, khác với quyền sở hữu tài sản vật chất, không bao gồm đầy đủ quyền chiếm hữu. Điều này đƣợc lí giải bởi những nguyên nhân sau: quyền chiếm hữu đối với tài sản là không có ý nghĩa, do đó không cần thiết.
Đặc tính vô hình và bản chất thông tin – tri thức của tài sản trí tuệ khiến cho loại đối tƣợng này có khả năng lan truyền (từ ngƣời này sang ngƣời khác, từ nơi này đến nơi khác) một cách vô giới hạn và có thể hiện diện đồng thời ở nhiều nơi mà không duy nhất nhƣ tài sản hữu hình. Việc một ngƣời nắm bắt (chiếm hữu) tài sản trí tuệ không cản trở, không làm phƣơng hại đến việc chiếm hữu của chủ sở hữu. Chính vì những lẽ trên, bảo hộ quyền SHTT là bảo hộ quyền sử dụng và quyền định đoạt của chủ thể nắm giữ tài sản trí tuệ đó. Việc bảo hộ này đồng thời cũng làm hạn chế khả năng tiếp cận và khai thác tài sản trí tuệ của các chủ thể khác.