Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 1. Khái niệm và vai trò của hệ thống kiểm soát nội bộ 1. Khái niệm Có nhiều quan điểm khác nhau về hệ thống kiểm soát nội bộ (HTKSNB) và vì vậy có rất nhiều định nghĩa về HTKSNB. Tuy nhiên, nhìn chung có hai cách tiếp cận phổ biến nhất là tiếp cận dựa trên mức độ ảnh hưởng của hệ thống kiểm soát nội bộ đến hiệu quả hoạt động của tổ chức, giúp tổ chức đạt được mục tiêu và cách tiếp cận dựa trên cơ sở hệ thống kiểm soát nội bộ là hệ thống kiểm soát rủi ro.
Dù tiếp cận theo cách nào, thì hệ thống kiểm soát nội bộ vẫn được thừa nhận là một công cụ hữu hiệu để hỗ trợ các nhà quản trị trong quá trình quản trị doanh nghiệp, tổ chức. Quá trình nghiên cứu về hệ thống kiểm soát nội bộ cũng phát sinh nhiều tranh cãi về sự khác biệt và ranh giới giữa hệ thống kiểm soát nội bộ và kiểm soát nội bộ. Tuy nhiên, theo tìm hiểu của tác giả, ranh giới này không thật sự rõ nét. Các nghiên cứu về hệ thống kiểm soát nội bộ và kiểm soát nội bộ có nhiều vấn đề trùng lắp.
“Nói đến kiểm soát nội bộ là nói đến hệ thống kiểm soát nội bộ và việc nhìn nhận về kiểm soát nội bộ dưới góc độ là hệ thống kiểm soát nội bộ là xu hướng nghiên cứu của nhiều tổ chức, nhiều chuyên gia kinh tế” [6, Tr. Vì vậy, trong phạm vi luận văn của mình, tác giả sử dụng đồng nhất hai khái niệm này cho nghiên cứu của mình. Hiện nay định nghĩa được chấp nhận rộng rãi là định nghĩa của COSO (Committeee of Sponsoring Organization). COSO được thành lập nhằm nghiên cứu về hệ thống kiểm soát nội bộ và đưa ra các bộ phận cấu thành để giúp các đơn vị có thể xây dựng một hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu.
Báo cáo của COSO 1992 được công bố dưới tiêu đề Kiểm soát nội bộ - Khuôn khổ hợp nhất (Internal Control – Intergrated framework) đã định nghĩa 5 về hệ thống kiểm soát nội bộ như sau: “Kiểm soát nội bộ là một quá trình bị chi phối bởi người quản lý, hội đồng quản trị và các nhân viên trong đơn vị, nó được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt được các mục tiêu sau đây: (1) Sự hữu hiệu và hiệu quả của hoạt động (2) Sự tin cậy của báo cáo tài chính (3) Sự tuân thủ pháp luật và các quy định” [1][3] Khái niệm KSNB của tổ chức COSO được chấp nhận khá rộng rãi và được Liên đoàn kế toán quốc tế thừa nhận vì nó đã đáp ứng được yêu cầu về minh bạch thông tin của các công ty đặc biệt là các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán. Liên đoàn Kế toán quốc tế (IFAC), đã đưa ra khái niệm về hệ thống kiểm soát nội bộ (HTKSNB) tương tự, đó là: “HTKSNB là một hệ thống chính sách, thủ tục được thiết lập nhằm đạt được bốn mục tiêu: Bảo vệ tài sản của đơn vị; bảo đảm độ tin cậy của các thông tin; bảo đảm việc thực hiện các chế độ pháp lý; bảo đảm hiệu quả hoạt động”. Khái niệm này cũng đề cập đến các khía cạnh của HTKSNB và nhấn mạnh đến các mục tiêu đảm bảo hiệu quả hoạt động trên cơ sở tuân thủ pháp luật, đảm bảo độ tin cậy của thông tin và độ an toàn của tài sản. Theo tác giả Robert R.
Moeller [2, tr 24] khi nghiên cứu HTKSNB đã đưa ra khái niệm “KSNB là một quá trình được thiết kế bởi nhà quản lý và áp dụng trong đơn vị nhằm cung cấp sự đảm bảo hợp lý về: Độ tin cậy của thông tin tài chính và thông tin hoạt động; tuân thủ các chính sách, thủ tục, nội quy, quy chế và luật pháp; bảo vệ tài sản; thực hiện được sứ mệnh, mục tiêu và kết quả của các hoạt động hoặc chương trình của đơn vị; đảm bảo tính chính trực và giá trị đạo đức”. Như vậy, khái niệm KSNB của tác giả Robert R. Moeller đã phát triển hơn so với khái niệm của COSO là chi tiết hơn về mục tiêu đảm bảo tuân thủ và hoạt động của KSNB trong đơn vị: “Tuân thủ các chính sách, thủ tục, nội 6 quy, quy chế và luật pháp; bảo vệ tài sản; thực hiện được sứ mệnh, mục tiêu và kết quả của các hoạt động hoặc chương trình của đơn vị”; mục tiêu về tính chính trực và giá trị đạo đức: “Đảm bảo tính chính trực và giá trị đạo đức”. Tại Việt Nam, HTKSNB là đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà khoa học.
Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu này đều dựa trên các nghiên cứu đã được công bố trên thế giới và vì vậy chủ yếu là các nghiên cứu ứng dụng chứ chưa đưa ra được một quan điểm mới về bản chất cuả HTKSNB. Dù nhìn nhận về HTKSNB theo nhiều cách khác nhau nhưng hiện nay, trong phần lớn các nghiên cứu, khái niệm của COSO vẫn được coi là khái niệm có sức lan toả và định hướng nghề nghiệp rõ nét nhất, được đông đảo các nhà quản lý và các nhà khoa học tham khảo, áp dụng. Đồng thời, quá trình nghiên cứu về HTKSNB cũng được đặc biệt lưu ý trên các khía cạnh: quá trình, con người, đảm bảo hợp lý và mục tiêu [5,tr. Cụ thể: Thứ nhất: Kiểm soát nội bộ là một quá trình Các hoạt động của đơn vị được thực hiện thông qua quá trình lập kế hoạch, thực hiện và giám sát.
Các đơn vị cần kiểm soát các hoạt động của mình để đạt được mục tiêu mong muốn. Và quá trình này chính là kiểm soát nội bộ. Như vậy, kiểm soát nội bộ sẽ trở nên hữu hiệu khi nó là một bộ phận không tách rời chứ không phải là chức năng bổ sung cho các hoạt động của tổ chức. Thứ hai: Kiểm soát nội bộ bị chi phối bởi con người KSNB được thiết kế và vận hành bởi con người, đó là: Hội đồng quản trị, Ban giám đốc, nhà quản lý và các nhân viên trong đơn vị.
Kiểm soát nội bộ là công cụ được nhà quản lý sử dụng chứ không thay thế được cho nhà quản lý. Chính nhà quản lý sẽ vạch ra mục tiêu, đưa ra biện pháp kiểm soát và vận hành chúng. Một hệ thống KSNB chỉ có thể hữu hiệu khi từng thành viên trong tổ chức hiểu rõ trách nhiệm và quyền hạn của mình. Tuy nhiên mỗi thành viên tham gia vào tổ chức với khả năng, kiến thức, kinh nghiệm và nhu cầu khác nhau.
7 Do vậy, để KSNB hữu hiệu cần phải xác định mối liên hệ, nhiệm vụ và cách thức thực hiện chúng của từng thành viên để đạt được các mục tiêu của tổ chức Thứ ba: Kiểm soát nội bộ cung cấp sự đảm bảo hợp lý KSNB chỉ có thể cung cấp sự đảm bảo hợp lý cho các nhà quản lý trong việc đạt được các mục tiêu của tổ chức chứ không thể đảm bảo tuyệt đối. Điều này xuất phát từ những hạn chế tiềm tàng trong quá trình xây dựng và vận hành hệ thống KSNB như: Những sai lầm của con người khi đưa ra các quyết định, sự thông đồng của các cá nhân hay sự lạm quyền của nhà quản lý có thể vượt khỏi kiểm soát nội bộ.Hơn nữa một nguyên tắc cơ bản trong quản lý là chi phí cho quá trình kiểm soát không thể vượt quá lợi ích mong đợi từ quá trình kiểm soát đó. Tất cả các điều đó dẫn đến, trong mọi tổ chức, dù có thể đã đầu tư rất nhiều cho việc thiết kế và vận hành hệ thống nhưng vẫn không thể có hệ thống KSNB hoàn hảo. Thứ tư: Kiểm soát nội bộ giúp đạt được các mục tiêu Mỗi đơn vị cần có các mục tiêu kiểm soát cần đạt được để từ đó xác định các chiến lược cần thực hiện.
Đó có thể là mục tiêu chung cho toàn đơn vị hay mục tiêu cụ thể cho từng hoạt động, từng bộ phận trong đơn vị. Có thể chia các mục tiêu kiểm soát đơn vị cần thiết lập thành ba nhóm: - Nhóm mục tiêu về hoạt động: Nhấn mạnh đến sự hữu hiệu và hiệu quả của việc sử dụng các nguồn lực. - Nhóm mục tiêu về báo cáo tài chính: Nhấn mạnh đến tính trung thực và đáng tin cậy của báo cáo tài chính mà tổ chức cung cấp. - Nhóm mục tiêu về sự tuân thủ: Nhấn mạnh đến việc tuân thủ pháp luật và các quy định.
Một hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu có thể cung cấp sự đảm bảo hợp lý đạt được các mục tiêu nêu trên. Kết quả đạt được phụ thuộc vào môi trường kiểm soát, cách thức đánh giá rủi ro, các hoạt động kiểm soát của đơn vị, hệ thống thông tin và truyền thông, vấn đề giám sát. Vai trò của hệ thống kiểm soát nội bộ Vai trò của HTKSNB được thừa nhận là không thể chối cãi trong việc hỗ trợ quản lý doanh nghiệp. Vai trò này được nhìn nhận trên 3 khía cạnh chính là: Đảm bảo tính hiệu quả, tính tuân thủ và bảo vệ tài sản cho doanh nghiệp.
Cụ thể: - Nhờ có hệ thống KSNB mà doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn và ngày càng phát triển, giảm thiểu những sai sót và rủi ro trong quản lý cũng như trong hoạt động kinh doanh. - Thông qua hệ thống KSNB doanh nghiệp phát hiện được những thiệt hại, sai sót và hành vi vi phạm trong việc sử dụng tài sản của doanh nghiệp. Từ đó đề ra được những biện pháp để bảo vệ tài sản hữu hiệu và sử dụng hợp lý hơn nguồn tài sản của doanh nghiệp. - Hệ thống KSNB duy trì và kiểm tra việc tuân thủ các chính sách có liên quan đến các hoạt động, ngăn chặn và phát hiện kịp thời những gian lận và sai sót trong mọi hoạt động của doanh nghiệp.
Ngoài ra, những thông tin không đáng tin cậy cũng được phát hiện nếu KSNB hữu hiệu.35] Theo báo cáo COSO 2013, sự hiệu quả của hệ thống KSNB được đánh giá dựa trên 5 bộ phận của hệ thống KSNB. Việc xác định tổng quan hệ thống KSNB có hiệu quả hay không là kết quả của việc đánh giá liệu mỗi bộ phận của hệ thống KSNB có hiện hữu và hiệu quả không. Các bộ phận cấu thành của hệ thống kiểm soát nội bộ theo COSO 2013 Nhận thức về các yếu tố cơ bản của KSNB cũng khá đa dạng. Theo chuẩn mực kiểm toán số 400 thì HTKSNB bao gồm ba yếu tố cơ bản là: Môi trường kiểm soát, hệ thống kế toán và các thủ tục kiểm soát.
Theo quan điểm của PGS.