CHƯƠNG I – MÔ TẢ BÀI TOÁN VÀ GIẢI PHÁP 1.1 Bài toán đăng ký môn học trong đào tạo tín chỉ Quy trình đăng ký lớp tín chỉ của học viên và tổ chức cho các lớp tín chỉ thực hiện công tác dạy và học chỉ là một quy trình rất nhỏ trong tổng thể cả một quy trình quản lý đào tạo tín chỉ. Tuy nhiên đây lại là một trong những giai đoạn rất quan trọng. Trước mỗi một học kỳ mới, cán bộ quản lý đào tạo ở mỗi Khoa sẽ thực hiện lên danh sách các lớp tín chỉ dự kiến cho học kỳ tiếp theo căn cứ theo thông tin về chương trình đào tạo, khóa học, giảng viên, môn học v.v… Sau khi lên được danh sách các lớp tín chỉ dự kiến. Cán bộ quản lý sẽ thông báo cho các giảng viên vào đăng ký các thông tin chi tiết như giờ học, buổi học … Từ các thông tin chi tiết giảng viên đăng ký và danh sách lớp tín chỉ dự kiến ban đầu.
Cán bộ quản lý sẽ lên danh sách lớp tín chỉ dự kiến chi tiết và đưa vào hệ thống đăng ký lớp tín chỉ. Học viên khi bắt đầu bước vào một kỳ học mới sẽ thực hiện đăng ký các môn học sẽ phải học. Trước khi thực hiện đăng ký, học viên sẽ xin ý kiến tư vấn của một giảng viên công tác trong khoa. Căn cứ trên số môn học mà học viên đã học và số lượng tín chỉ mà học viên tích lũy được mà học viên được lựa chọn môn học và số lượng tín chỉ nằm trong giới hạn cho phép theo đúng quy chế đào tạo của Bộ GD & ĐT (quyết định số 43/QĐ-BGD-ĐT 2007) Nhà trường sẽ tổ chức thành hai đợt đăng ký cách nhau 15 ngày.
Mỗi đợt đăng ký trong 03 ngày. Học viên được cung cấp danh sách môn học mà học viên có thể đăng ký. Mỗi một môn học sẽ có danh sách các lớp tín chỉ với các giảng viên và khung giờ khác nhau. Các lớp tín chỉ sẽ có số lượng học viên tối đa và số lượng học viên tối thiểu để có thể tổ chức lớp.
Học viên lựa chọn lớp đăng ký sau đó xác nhận lại với bộ phận đăng ký để ghi tên vào lớp. Sau khi học viên đăng ký xong, bộ phận đăng ký sẽ cung cấp cho mỗi một học viên các thông tin: thời khóa biểu, tài liệu học tập (nếu có) Sau khi kết thúc quá trình đăng ký và toàn bộ học viên đã có thời khóa biểu. Thì sau một khoảng thời gian nhà trường sẽ tổ chức thực hiện dạy và học theo thời khóa biểu đã có. Các cán bộ quản lý và giảng viên sẽ điều hành hoạt động của lớp tín chỉ diễn ra theo đúng kế hoạch học tập cho đến khi kết thúc môn học và cán bộ quản lý sẽ xắp xếp lịch thi hết học phần.2 Các vấn đề còn tồn tại Căn cứ trên việc khảo sát hiện trạng quy trình nghiệp vụ đăng ký môn học trong đào tạo theo hình thức tín chỉ và căn cứ vào việc khảo sát sơ bộ một số giải pháp đăng ký đã được áp dụng hiện nay (xem Phụ lục 01).
Có thể thấy rằng quy trình đăng ký môn học của học viên trong đào tạo theo hình thức tín chỉ hiện nay còn tồn tại một số hạn chế chưa giải quyết được như sau: (LUAN.chi TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.chi 3 o Các cán bộ quản lý khi tạo lớp tín chỉ dự kiến còn phải làm thủ công và sử dụng nhiều công cụ khác nhau hỗ trợ. Hầu hết các công cụ này đều không phải là công cụ chuyên môn hỗ trợ do vậy mà việc xếp các lớp tín chỉ dự kiến vào các phòng học khác nhau cho khỏi trùng lặp khiến cho cán bộ quản lý đào tạo gặp rất nhiều khó khăn. o Trước đăng ký, học viên cần phải được cán bộ làm công tác tư vấn học tập tư vấn và việc tư vấn này phải được xác nhận lại. Tuy nhiên, thực tế hiện nay các trường đang gặp phải vấn đề thiếu nghiêm trọng nguồn cán bộ tư vấn trong khi số lượng học viên rất đông gây ảnh hưởng lớn đến tiến độ đào tạo.
o Ở thời điểm đăng ký môn học, số lượng học viên đăng ký rất đông gây ra quá tải dành cho hệ thống đăng ký dẫn đến nhiều vấn đề phát sinh như: không đăng ký được, đăng ký được nhưng nhầm lớp, không thể đăng ký lớp phù hợp .v… Các vấn đề phát sinh gây khó khăn cho cán bộ quản lý đào tạo quản lý việc đăng ký cũng như là gây khó khăn công tác tổ chức học tập và qua đó cũng làm ảnh hưởng đến tiến độ đào tạo của nhà trường.3 Giải pháp Căn cứ trên các khó khăn và hạn chế còn tồn tại thông qua việc khảo sát hiện trạng quy trình nghiệp vụ đăng ký môn học trong đào tạo theo hình thức tín chỉ và căn cứ vào việc khảo sát sơ bộ một số giải pháp đăng ký đã được áp dụng hiện nay. Dưới đây là một số giải pháp giải quyết một phần các hạn chế còn tồn tại để có một hệ thống hỗ trợ công tác đăng ký môn học tốt hơn hỗ trợ cho học viên cũng như cán bộ quản lý đào tạo: o Xây dựng hệ thống hỗ trợ đăng ký môn học trong đào tạo tín chỉ. Hệ thống này cung cấp các giải pháp hỗ trợ cho cán bộ quản lý có thể quản lý tra cứu thông tin cần sử dụng khi tạo lập lớp tín chỉ: bố trí phòng học cho các lớp tín chỉ, tra cứu thông tin môn cần học trong học kỳ tiếp theo các khóa học .v… o Tự động hóa công tác tư vấn cho học viên bằng cách đưa ra các thông tin cho từng học viên như: môn đã học, môn đã học và đã đạt, môn đã học và chưa đạt, môn chưa học, môn cần học trong học kỳ tiếp theo, số lượng tín chỉ có thể được phép đăng ký, danh sách lớp tín chỉ trong học kỳ tiếp theo .v…Cũng căn cứ trên các thông tin như trên, hệ thống tự động tạo lập các ràng buộc cho học viên khi đăng ký môn học như: được phép đăng ký môn nào, không được phép môn nào do chưa đạt điều kiện về môn tiền điều kiện hoặc là một số ràng buộc khác. o Hệ thống đăng ký môn học sử dụng giải pháp phân luồng học viên đăng ký để giải quyết bài toán quá tải cho hệ thống đăng ký bằng việc phân chia các nhóm học viên đăng ký trong phạm vi chịu tải của hệ thống căn cứ ưu tiên theo thời điểm học viên đăng nhập vào hệ thống đăng ký, các học viên còn lại được bố trí sau một khoảng thời gian ngay tiếp sau.chi TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.chi 4 CHƯƠNG II - CÔNG NGHỆ, PHƯƠNG PHÁP VÀ CÔNG CỤ THỰC HIỆN 2.1 Công nghệ Web services 2.1 Web services là gì ? W3C đã định nghĩa web services là một phần mềm được thiết kế để các thiết bị có thể tương thích với nhau và tương tác với nhau qua mạng.
Nó có một giao diện giao tiếp mô tả định dạng xử lý (WSDL) và một hệ thống khác muốn giao tiếp với web services phải theo quy cách đã được quy định thông qua SOAP, thường được truyền tải sử dụng giao thức HTTP và XML kết hợp tuần tự với các kết nối web chuẩn khác.2 Đặc điểm của Web services o Web service cho phép máy khách và máy chủ tương tác được với nhau mặc dù chúng hoạt động trong những môi trường khác nhau (ngôn ngữ lập trình khác nhau, hệ nền khác nhau). o Web service được thiết kế mở, dựa vào các chuẩn XML và HTTP là nền tảng k thuật cho web service vì vậy chúng độc lập với ngôn ngữ lập trình và hệ nền o Web service rất linh động: với DDI và WSDL thì việc mô tả và phát triển web service có thể được tự động hóa. o Web service được xây dựng trên nền tảng những công nghệ đã được chấp nhận. o Web service có dạng module.
o Web service có thể công bố (publish) và gọi thực hiện qua mạng.3 Kiến trúc của Web services Kiến trúc của web service bao gồm các tầng như sau: Hình 2.1: Kiến trúc của web service (LUAN.chi TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.chi 5 Trong đó bao gồm các tầng: o Tầng vận chuyển với những công nghệ chuẩn là HTTP, SMTP và JMS o Tầng giao thức tương tác dịch vụ (Service Communication Protocol) với công nghệ chuẩn là SOAP. SOAP là giao thức nằm giữa tầng vận chuyển và tầng mô tả thông tin về dịch vụ, SOAP cho phép người dùng triệu gọi một service từ xa thông qua một message XML. o Tầng mô tả dịch vụ (Service Description) với công nghệ chuẩn là WSDL và XML. WSDL là một ngôn ngữ mô tả giao tiếp và thực thi dựa trên XML.
Web service sử dụng ngôn ngữ WSDL để truyền các tham số và các loại dữ liệu cho các thao tác, các chức năng mà web service cung cấp. o Tầng dịch vụ (Service): cung cấp các chức năng của service. o Tầng đăng ký dịch vụ (Service Registry) với công nghệ chuẩn là DDI. UDDI dùng cho cả người dùng và SOAP server, nó cho phép đăng ký dịch vụ để người dùng có thể gọi thực hiện service từ xa qua mạng, nói cách khác một dịch vụ web cần phải được đăng ký để cho phép các máy khách có thể thực hiện gọi các chức năng.
o Bên cạnh đó để cho các dịch vụ có tính an toàn, toàn vẹn và bảo mật thông tin trong kiến trúc dịch vụ web chúng ta có thêm các tầng Policy, Security, Transaction và Management giúp tăng cường tính bảo mật, an toàn và toàn vẹn thông tin khi sử dụng chức năng của dịch vụ.4 Các thành phần của Web services 2.1 XML– Extensible Markup Language XML do W3C đề ra và được phát triển từ SGML. XML là một ngôn ngữ mô tả văn bản với cấu trúc do người sử dụng định nghĩa. Về hình thức XML có ký pháp tựa như HTML nhưng không tuân theo một đặc tả quy ước như HTML. Người sử dụng hay các chương trình có thể quy ước định dạng các tag XML để giao tiếp với nhau.Thông tin cần truyền tải được chứa trong các tag XML, ngoài ra không chứa bất cứ thông tin nào khác về cách sử dụng hay hiển thị những thông tin đó.
Do dịch vụ web là sự kết hợp của nhiều thành phần khác nhau, do đó dịch vụ web sử dụng các tính năng và đặc trưng của các thành phần này để giao tiếp với nhau. Vì vậy XML là một công cụ chính yếu để giải quyết vấn đề này. Từ kết qủa này, các ứng dụng tích hợp vĩ mô tăng cường sử dụng XML.