CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Lược sử nghiên cứu 1. Trên thế giới Trên thế giới, khoa học sáng tạo đã phát triển rất sớm. Vào thế kỷ thứ ba, Pappus đã đặt nền móng cho khoa học về tư duy sáng tạo (Ơ-ris-tic).
Ơ-ris-tic là khoa học về sự sáng chế, phát minh trong lĩnh vực khoa học cơ bản, kỹthuật. Đến nay, Ơ-ris-tic đã tồn tại suốt 17 thế kỷ nhưng có rất ít người biết về nó, vì trong một khoảng thời gian dài xã hội không có nhu cầu cấp thiết về khoa học tư duy sáng tạo. Ngày nay, khi mà sáng tạo tự phát không thể giải quyết được những vấn đề ngày càng phức tạp của xã hội thì khoa học sáng tạo Ơ-ris-tic được nghiên cứu và phát triển. Trên thế giới các PPDH tích cực góp phần phát triển NLST cho HS có mầm mống từ cuối thế kỉ XIX và phát triển mạnh từ những năm 70 của thế kỉ XX.
Vào nửa cuối thế kỷ XIX các nghiên cứu về tâm lí học sáng tạo trong khoa học kỹ thuật bắt đầu xuất hiện. Đến thế kỷ XX các nghiên cứu đã cho kết quả là khả năng sáng tạo có ở tất cả những người bình thường, khoa học sáng tạo Ơ-ris-tic được phát triển với chất lượng mới với tên gọi là sáng tạo học. Các nhà tâm lí học đã phát hiện ra phương pháp thử và sai và vai trò quan trọng của nhiều yếu tố tâm lí như tính liên tưởng, trí tưởng tượng, trực giác, tính ì tâm lí. trong quá trình tưduy sáng tạo.
Tại thời điểm đó đã xuất hiện nhiều phương pháp nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả tư duy sáng tạo như: Phương pháp đối tượng tiêu điểm của F. Zwicky, Phương pháp não công của A. Mặc dù các phương pháp này tuy có nhiều ưu điểm song vẫn chưa khắc phục được nhược điểm của phương pháp thử và sai là thiếu cơ chế định hướng từ bài toán đến lời giải trong tư duy sáng tạo. Người có công lớn trong việc xây dựng khoa học sáng tạo là nhà khoa học Genric Sanlovich Altshuller.
Ông đã xây dựng lí thuyết giải các bài toán sáng chế (viết tắt TRIZ) là phương pháp luận tìm kiếm những giải pháp kỹ 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thuật mới, cho những kết quả khả quan, ổn định khi giải những bài toán khác nhau, thích hợp cho việc dạy và học với đông đảo quần chúng. TRIZ kết hợp một cách chặt chẽ 4 yếu tố: Tâm lí, logic, kiến thức, trí tưởng tượng. Nó có mục đích tích cực hoá hoạt động tư duy sáng tạo. Theo đó, khoa học về sáng tạo được nhiều quốc gia quan tâm và đưa vào giảng dạy.
Năm 1984, nghiên cứu của Spickler và một số nhà giáo dục học Bắc Mỹ về việc "Khảo sát nhiệm vụ thực hành trong các môn khoa học bậc ĐH" [35] cho thấy: Phải gắn HS vào quá trình học tập tích cực; làm cho HS có trách nhiệm học và lựa chọn tiến hành thí nghiệm một cách hứng thú; đòi hỏi HS phải áp dụng nhiều kỹ năng xử lý thí nghiệm bao quát hơn, đáp ứng được yêu cầu HS tự nghiên cứu, tự học, tự phát triển tư duy và phát huy tính sáng tạo. Đầu thế kỉ XX các nhà sư phạm Mỹ (J.Dewey, Woodward, Richard, W.Kilpatrick) đã xây dựng lí luận cho PPDH dự án (Project method). Đây là PPDH trong đó người học thực hiện một nhiệm vụ phức hợp, có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực tiễn, thực hành được người học thực hiện với tính tự lực cao trong quá trình học tập, từ việc xác định mục đích, lập kế hoạch, đến việc thực hiện dự án, kiểm tra, điều chỉnh, đánh giá quá trình và kết quả thực hiện. Tony Buzan đã đề xuất sơ đồ tư duy (Mind Map) để giúp người học phát triển tư duy.
Đây là hình thức ghi chép bằng hình vẽ có sử dụng màu sắc và hình ảnh để mở rộng, nhấn mạnh các ý tưởng. Nhờ sự kết nối giữa các nhánh, các ý tưởng được liên kết với nhau khiến sơ đồ tư duy có thể bao quát được các ý tưởng trên một phạm vi sâu rộng. Tính hấp dẫn của hình ảnh, âm thanh,gây ra những kích thích rất mạnh lên hệ thống rìa của não giúp cho việc ghi nhớ được lâu bền và tạo ra những điều kiện thuận lợi để vỏ não phân tích, xử lí,. từ đó giúp người học rút ra kết luận hoặc xây dựng mô hình về đối tượng cần nghiên cứu [26].
Năm 1930 nhà sáng chế Alex Born đề xuất kĩ thuật công não- một kĩ thuật hội ý bao gồm một nhóm người nhằm tìm ra lời giải cho vấn đề đặc trưng bằng cách góp nhặt tất cả các ý kiến của nhóm người đó nảy sinh trong 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cùng môt thời gian theo một nguyên tắc nhất định. Ở Việt Nam Ở Việt Nam, vào cuối thập kỷ 70, những hoạt động nghiên cứu liên quan đến khoa học về tư duy sáng tạo còn mang tính chất tự phát. Lớp học dạy về phương pháp luận sáng tạo được tổ chức năm 1977. Người có công lớn là Phan Dũng với các tác phẩm: Phương pháp luận sáng tạo khoa học - kỹ thuật giải quyết vấn đề ra quyết định [7]; Các nguyên tắc sáng tạo cơ bản [6] [10]; Thế giới bên trong con người sáng tạo [8]; Tư duy logic biện chứng và hệ thống [9].
Nguyễn Chân, Dương Xuân Bảo và Phan Dũng (1983) với “Angôrit sáng chế” - Đây là quyển sách đầu tiên về phương pháp luận sáng tạo được nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội in và phát hành [3]. Nguyễn Văn Lê (1998) với “Cơ sở khoa học của sự sáng tạo” [15] đã trình bày một số cơ sở khoa học của việc giáo dục tính sáng tạo cho thanh thiếu niên như: Cơ sở tâm lí học của sự sáng tạo, cơ sở sinh lí thần kinh của hoạt động sáng tạo, bài học từ những con người sáng tạo. Nguyễn Minh Triết (2001) với “Đánh thức tiềm năng sáng tạo” [31] đã đề cập đến việc vận dụng 19 nguyên tắc sáng tạo vào giải các bài toán cụ thể nhằm khắc phục tính ì tâm lí của con người khi giải quyết các vấn đề thực tiễn. Nguyễn Cảnh Toàn (2005) với “Khơi dậy tiềm năng sáng tạo” [24] đã đưa ra các vấn đề về sáng tạo học như khái niệm, nguồn gốc, cơ sở thần kinh của hoạt động sáng tạo.
Quyển sách đã chỉ ra cho người giáo viên (GV) làm thế nào để dạy HS học tập sáng tạo. Trần Thị Bích Liễu với cuốn sách ”Giáo dục phát triển NLST” đã đưa hiểu biết về giáo dục sáng tạo và phát triển NLST vào Việt Nam một cách hệ thống và bài bản nhằm giúp các trường học phát triển NLST của HS, tạo. Qua đó các nhà quản lí giáo dục có thể tìm thấy những cách thức để phát triển nhà trường của mình thành một nhà trường sáng tạo, GV tìm thấy những hiểu biết, các nội dung và PPDH để phát triển tiềm năng sáng tạo cho HS. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Cho đến nay chưa có đề tài nào nghiên cứu một cách hệ thống về vấn đề phát triển NLST cho HS thông qua sử dụng câu hỏi, bài tập trong dạy học phần Sinh thái học chương trình chuyên.
Năng lực sáng tạo 1. Khái niệm năng lực sáng tạo a) Khái niệm năng lực Khái niệm năng lực được diễn đạt theo nhiều cách khác nhau. Theo Weitnert : "Năng lực là những kĩ năng kĩ xảo học được hoặc sẵn có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sự sẵn sàng về động cơ xã hộivà khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt " [40, tr. Theo Barnett: "Năng lực là một tập hợp các kiến thức, kĩ năng và thái độ phù hợp với một hoạt động thực tiễn" [13].
Theo Howard Gardner: "Năng lực phải được thể hiện thông qua hoạt động có kết quả và có thể đánh giá hoặc đo được" [39, tr. Theo Denys Tremblay: "Năng lực là khả năng hành động, đạt được thành công và chứng minh sự tiến bộ nhờ vào khả năng huy động và sử dụng hiệu quả nhiều nguồn lực tích hợp của cá nhân khi giải quyết các vấn đề của cuộc sống" [38, tr. Theo Bernd Meier, Nguyễn Văn Cường: "Năng lực là một thuộc tính tâm lý phức hợp, là điểm hội tụ của nhiều yếu tố như tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm đạo đức " [4]. Như vậy có thể hiểu năng lực là khả năng thực hiện có hiệu quả và có trách nhiệm các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề thuộc lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trong những tình huống khác nhau trên cơ sở kết hợp sự hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo và kinh nghiệm.
b) Khái niệm sáng tạo Trong tâm lí học, Henry Gleitman định nghĩa: "Sáng tạo, đó là năng lực 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tạo ra những giải pháp mới hoặc duy nhất cho một vấn đề thực tiễn và hữu ích" [14]. Karen Huffman trong "Tâm lí học hành động" cho rằng: "người có tính sáng tạo là người tạo ra được giải pháp mới mẻ và thích hợp để giải quyết vấn đề" [30].Rieunier: "Tính sáng tạo là năng lực tưởng tượng nhanh, nhiều lời giải độc đáo khi đối đầu với một vấn đề" [37, tr.L Solsor cho rằng: "Sự sáng tạo là một hoạt động nhận thức mà nó đem lại một cách nhìn nhận hay giải quyết mới mẻ đối với một vấn đề hay một tình huống" [23]. Theo định nghĩa trong từ điển Tiếng Việt thì: "Sáng tạo là tìm ra cái mới, cách giải quyết mới, không bị gò bó, phụ thuộc vào cái đã có" [18]. Nguyễn Cảnh Toàn thì quan niệm: "Người có óc sáng tạo là người có kinh nghiệm về phát hiện và giải quyết vấn đề đã đặt ra" [25].
Phan Dũng định nghĩa sáng tạo như sau: Sáng tạo là hoạt động tạo ra bất kỳ cái gì có đồng thời tính mới và có lợi. Tính mới là sự khác biệt của đối tượng so với đối tượng cùng loại ra đời trước đó về mặt thời gian. Tính có lợi chỉ thể hiện ra khi đối tượng cho trước hoạt động theo đúng chức năng và trong phạm vi áp dụng của nó. Như vậy, có thể thấy, dù phát biểu dưới các góc độ khác nhau, nhưng điểm chung của các nhà khoa học thì sáng tạo là một tiến trình phát kiến ra các ý tưởng, giải pháp, quan niệm mới, độc đáo, hữu ích phù hợp với hoàn cảnh.