chương 1. Câu hỏi mâu thuẫn Loại câu hỏi này được xây dựng dựa trên những điều vô lý, không phù hợp với quy luật, lý thuyết đã thừa nhận chung. Xây dựng hệ thống câu hỏi này khi có sự không phù hợp giữa hình thức và nội dung, giữa nội dung này và nội dung khác hoặc giữa hình thức với hình thức trong một chỉnh thể tác phẩm văn học. Rộng hơn có thể có cả mâu thuẫn trong cách đánh giá và tiếp nhận tác phẩm văn học đó.
Chẳng hạn, để làm rõ tài năng bậc thầy của Nguyễn Du trong việc khắc họa tính cách, nắm bắt quy luật tâm lý của nhân vật khi dạy đoạn trích “ Thúy Kiều báo ân, báo oán”, giáo viên có thể đặt câu hỏi “ tại sao vừa ở trên, Thúy Kiều đang có thái độ phen này kẻ cắp bà già gặp nhau với Hoạn Thư mà giờ nàng lại tha ngay Hoạn Thư”. Câu hỏi này đặt ra sự mâu thuẫn trong cách hành xử thông thường và trong chính cách xử sự của Kiều.Từ sự mâu thuẫn đó, học sinh phải tìm cách lý giải để qua đó thấy được sự khôn ngoan, thông minh của Hoạn Thư và sự bao dung độ lượng của Kiều. Nguyễn Du đã thực sự đứng ngoài cuộc mà quan sát chứ không áp đặt suy nghĩ chủ quan của mình lên nhân vật. Đó là tài năng bậc thầy của nhà thơ.
Câu hỏi bất ngờ Câu hỏi này được tạo ra bằng các sự kiện bất ngờ hoặc bất bình thường. Câu hỏi thường nhằm vào sự thông thường và cái khác thường trong nội dung, nghệ thuật và giá trị tác phẩm. Bản thân nó gây sự hứng thú cho học 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Khi giảng đoạn trích “ Mã Giám Sinh mua Kiều”, giáo viên có thể đặt câu hỏi: Thông thường câu thơ lục ngắt nhịp 2/4; 4/2; 2/2/2; câu bát ngắt nhịp 2/6;/6/2;/4/4 nhưng 2 câu thơ này ngắt nhịp có gì đặc biệt? Trái với thông thường, học sinh sẽ đặt trong trạng thái bất ngờ, tạo được sự hứng thú, thôi thúc học sinh tìm ra lời giải đáp.
Vấn đề ở đây 2 câu thơ ngắt nhịp độc đáo: Câu lục nhịp 2/1/3, câu bát nhịp 2/1/5-->Nhịp thơ bộc lộ ngôn ngữ đối thoại của nhân vật Mã Giám Sinh- một kẻ tự xưng là sinh viên Quốc Tử Giám đi hỏi vợ( nghĩa là có học) nhưng câu trả lời của hắn “ rằng”, đứng riêng một nhịp, nghe cộc lốc, thô lỗ, cục cằn đó chỉ có thể là lời của kẻ vô học hoặc hợm của cậy tiền. Câu hỏi lựa chọn. Câu hỏi này đặt học sinh vào tình huống được lựa chọn những chi tiết, được bộc lộ những suy nghĩ cảm xúc riêng trước những vấn đề đặt ra. Hoặc giáo viên có thể xây dựng hệ thống câu hỏi này khi có nhiều ý kiến khác nhau về một vấn đề buộc ta phải lựa chọn cách giải quyết hợp lý nhất, tối ưu nhất.
Người phát hiện vấn đề và tạo ra tình huống bao giờ cũng phải gợi ra được một số khả năng để người học chọn lựa. Ví dụ, khi cần làm rõ nghệ thuật sử dụng từ ngữ trong đoạn trích “ Cảnh ngày xuân”, giáo viên đặt câu hỏi : Có ý kiến cho rằng : Nguyễn Du là bậc thầy về ngôn ngữ. Chứng minh ý kiến đó em sẽ chọn những ngữ liệu nào trong đoạn trích? Hoặc : câu thơ “Cỏ non xanh tận chân trời” có bản chép là “Cỏ non xanh rợn chân trời”. Theo em nếu thay từ “tận” bằng từ “rợn” thì hiệu quả sẽ như thế nào ? 1.Câu hỏi phản bác Xây dựng hệ thống câu hỏi này khi phải tranh luận, đấu tranh với những đánh giá, những nhận định hoặc quan điểm sai lệch.
Học sinh có cơ hội thể hiện kĩ năng thuyết trình, lập luận và đưa ra ý kiến chủ quan của mình. Chẳng hạn, khi cần làm rõ sự tiếp nối và sáng tạo của Nguyễn Du với thơ Đường trong khi miêu tả cảnh xuân (đoạn trích Cảnh ngày xuân), giáo viên có 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thể đặt câu hỏi : “ Khi biết trong thơ cổ Đường thi có câu thơ : Phương thảo liên thiên bích – Lê chi sổ điểm hoa (Cỏ thơm liền với trời xanh – Trên cành lê có mấy bông hoa), An đã cho rằng Nguyễn Du đã diễn xuôi câu thơ đó bằng thơ lục bát của Việt Nam. Em có đồng tình với ý kiến của An không ? Tại sao ? Ở câu hỏi này học sinh sẽ tranh luận việc An sai hay đúng khi nhận định Nguyễn Du sao chép thơ Đường. Học sinh sẽ phải tranh luận để tìm ra vấn đề là Nguyễn Du đã kế thừa : chất liệu cỏ, trời, hoa lê, nhưng trên cơ sở đó tác giả vận dụng sáng tạo: màu sắc của cỏ xanh và màu trắng của hoa lê “ điểm” cho nhau để tạo nên một khung cảnh xuân sống động, có hồn chứ không tĩnh tại.
Vậy ý kiến của bạn là sai. Câu hỏi giả định Câu hỏi là một sự giả định để làm rõ vấn đề hay sự việc cần tìm hiểu đánh giá. Câu hỏi này thường đặt ra một tình huống hoặc một ý kiến, giúp học sinh được biểu lộ năng lực thích ứng trong tình huống của cuộc sống. Chẳng hạn đặt ra một tình huống giả định có nhiều luồng ý kiến khác nhau xung quanh một vấn đề, từ đó học sinh là một “trọng tài” để đưa ra quyết định cuối cùng.
Khi cần làm rõ thái độ của Nguyễn Du với giá trị của đồng tiền trong đoạn trích “ Mã Giám Sinh mua kiều”, giáo viên đặt câu hỏi : Có ý kiến nói rằng trong đoạn trích này nói riêng, trong “ Truyện Kiều” nói chung có một hình tượng mới hiện rõ, khi giấu mặt nhưng lúc nào cũng mang sức mạnh khuynh đảo đó là thế lực đồng tiền. Nhưng lại có ý kiến cho rằng bản thân đồng tiền chẳng mang tính thiện ác gì mà vấn đề là ở người sử dụng nó như thế nào nhằm mục đích gì? ý kiến của em như thế nào? Học sinh đồng thời phải đưa ra hai phương án: Nguyễn Du vừa phê phán đồng tiền( dễ dàng tha hóa con người, lạnh lùng đẩy một cô gái khuê các xuống địa ngục trầm luân, biến một cô gái tài sắc vẹn toàn thành một món hàng giá chỉ vài trăm lạng, Mã Giám sinh vì tiền mà táng tận lương tâm. Song đồng tiền cũng cứu nguy cho một gia 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đình thoát cơn bĩ cực, trong tay những người tốt như Thúc Sinh, Từ Hải nó lại có ý nghĩa cứu được Kiều ra khỏi lầu xanh. Truyện Kiều chứa đựng những tiền đề cho việc ứng dụng câu hỏi nêu vấn đề Nguyễn Du là một trong những tác gia lớn nhất trong giai đoạn phát triển rực rỡ nhất của văn học cổ điển nước ta.
Với Truyện Kiều, Nguyễn Du đã đưa thơ ca của dân tộc lên một đỉnh cao. Tác phẩm chiếm một vị trí quan trọng trong nền văn học Việt Nam và trong chương trình Văn học Phổ thông. Dạy Truyện Kiều giúp cho học sinh biết, hiểu về ngôn ngữ Việt Nam, thể thơ truyền thống của dân tộc Việt Nam, văn hoá truyền thống và tài năng bậc thầy của thi hào dân tộc Nguyễn Du. Vì vậy mà các soạn giả đã đưa Truyện Kiều vào phân phối chương trình ngữ văn lớp 9 (phần văn học Việt Nam) với số tiết nhiều nhất so với các tác phẩm khác được đưa vào giảng dạy của nền văn học trung đại.
Chẳng hạn: giảng về tác gia Nguyễn Du và Truyện Kiều (1tiết); 4 trích đoạn “Chị em Thúy Kiều” (1 tiết); trích đoạn “Cảnh ngày xuân” (1 tiết); trích đoạn “Kiều ở lầu Ngưng Bích” (1 tiết) , trích đoạn “ Mã Giám Sinh mua Kiều” (1 tiết), trích đoạn “ Thúy Kiều báo ân, báo oán”. Trong các kì thi chuyển cấp, thi học sinh giỏi, "Truyện Kiều" vẫn đang là vấn đề được đề cập tới nhiều nhất trong mảng văn học trung đại. Do vậy, cả giáo viên và học sinh đều rất để ý đến việc dạy và học Truyện Kiều. Nội dung Truyện Kiều đặt ra nhiều vấn đề cần được khám phá Nội dung của tác phẩm phản ánh chân thực đời sống khách quan của con người và xã hội thông qua lăng kính của nhà văn.
Trong quá trình tiếp nhận, người đọc sẽ khám phá bức tranh hiện thực sinh động ấy, đồng thời phải khám phá tầng biểu hiện ẩn sâu bên trong. Đó là quan điểm, tư tưởng và lập trường của nhà văn. Nội dung tiềm ẩn thật sự là rất khó nắm bắt đối với người đọc. Đây là điều kiện làm nảy sinh mâu thuẫn ngay trong từng bản thân tác phẩm cũng như trong nhận thức của người đọc.
Do vậy hoạt động của học 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sinh trong quá trình tiếp nhận tác phẩm luôn tồn tại mâu thuẫn giữa cái đã biết, cái đã có và cái cần nhận thức. Ở họ, sự hiểu biết về tác phẩm trước khi tiếp nhận nội dung tác phẩm là chưa có, nhưng khả năng cảm thụ và tiếp nhận cũng như nhu cầu khám phá cái mới thì luôn tồn tại. Cái chưa có, chưa biết luôn luôn có khả năng bị xoá nhoà, bị phủ nhận trong hoạt động tiếp nhận, đồng thời khả năng này có xu hướng phát triển thành những nhận thức mới, những hiểu biết mới về tác phẩm. Hai khả năng này luôn tồn tại và đấu tranh với nhau trong hoạt động cảm thụ của học sinh.
Đây chính là điều kiện làm nảy sinh tình huống mâu thuẫn và đưa ra thách thức, buộc học sinh phải tham gia tìm hiểu và khám phá. Câu hỏi nêu vấn đề sẽ được xây dựng trên cơ sở này. Là một kiệt tác của văn học trung đại, nội dung Truyện Kiều càng phong phú và có nhiều vấn đề hơn hết. Nó không đơn giản là câu chuyện về cuộc đời Thúy Kiều, mà còn là bức tranh rộng lớn về cuộc sống của người Việt Nam ta ở thời đại mà Nguyễn Du từng sống.
Đó là xã hội của các hệ thống quan lại, nhà chứa, và thế lực đồng tiền. Tất cả các thế lực đó hiển hiện một cách công khai trong tác phẩm và công khai đè bẹp con người một cách có tổ chức mà luôn được công nhận. Ở xã hội này, kẻ có quyền, có tiền đều độc ác xấu xa, bỉ ổi, mất nhân cách như Hồ Tôn Hiến, Mã Giám Sinh, Tú Bà…. Chỉ có những con người bị bóc lột mới thực sự là người tốt có đạo đức, biết thương yêu người khác.
Nó đủ để phản ánh rằng xã hội phong kiến trong Truyện Kiều không phải là một xã hội đang thịnh mà là một xã hội đang tàn tạ, đang thối rữa. Và xã hội đó chính là hình bóng của xã hội Việt Nam thời nhà thơ đang sống.