Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về việc phát triển NLVDKT của HS thông qua hệ thống BTHH có nội dung thực tiễn Chương 2. Tuyển chọn, xây dựng và sử dụng hệ thống BTHH có nội dung thực tiễn để phát triển NLVDKT của HS THPT tỉnh Nam Định (phần hữu cơ Hóa học 12 nâng cao) Chương 3: Thực nghiệm sư phạm 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC VẬN DỤNG KIẾN THỨC CỦA HỌC SINH THÔNG QUA HỆ THỐNG BÀI TẬP HÓA HỌC CÓ NỘI DUNG THỰC TIỄN 1. Năng lực và sự phát triển năng lực cho học sinh Trung học phổ thông 1.
Khái niệm năng lực Khái niệm năng lực có nguồn gốc tiếng La tinh: “competentia” nghĩa là “gặp gỡ”. Ngày nay, khái niệm năng lực được hiểu dưới nhiều cách tiếp cận khác nhau. Năng lực là khả năng đáp ứng thích hợp và đầy đủ các yêu cầu của một lĩnh vực hoạt động (Từ Điển Webster's New 20th Century, 1965). Năng lực là biết sử dụng các kiến thức và các kỹ năng trong một tình huống có ý nghĩa (Rogiers, 1996).
Năng lực là một tập hợp các kiến thức, kỹ năng, và thái độ phù hợp với một hoạt động thực tiễn (Barnett, 1992). Theo từ điển Tâm lí học (Vũ Dũng – 2000): Năng lực là tập hợp các tính chất hay phẩm chất của tâm lí cá nhân, đóng vai trò là điều kiện bên trong, tạo thuận lợi cho việc thực hiện tốt một dạng hoạt động nhất định. Nguyễn Quang Uẩn và các cộng sự: “Năng lực là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân, phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả” [53, tr.Weinert (2001) cho rằng: “Năng lực là những khả năng và kĩ xảo học được hoặc sẵn có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sự sẵn sàng về động cơ xã hội…và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt”. OECD (Tổ chức các nước kinh tế phát triển) (2002) đã xác định “Năng lực là khả năng cá nhân đáp ứng các yêu cầu phức hợp và thực hiện thành công nhiệm vụ trong một bối cảnh cụ thể ”.
Theo Bernd Meier và Nguyễn Văn Cường: “ Năng lực là một thuộc tính tâm lý phức hợp, là điểm hội tụ của nhiều yếu tố như tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm đạo đức” [16, tr. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Như vậy, chúng ta có thể hiểu năng lực là khả năng thực hiện có hiệu quả và có trách nhiệm các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề thuộc lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trong những tình huống khác nhau trên cơ sở sự hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động. Năng lực không phải là một thuộc tính đơn nhất. Đó là một tổng thể của nhiều yếu tố có liên hệ tác động qua lại và hai đặc điểm phân biệt cơ bản của năng lực là: (1) tính vận dụng; (2) tính có thể chuyển đổi và phát triển.
Năng lực được hình thành, phát triển và thể hiện trong hoạt động tích cực của con người. Phát triển năng lực của người học chính là mục tiêu mà dạy và học tích cực muốn hướng tới. Tùy theo môi trường hoạt động mà năng lực có thể đánh giá hoặc đo được, quan sát được ở những tình huống nhất định. Các loại năng lực Năng lực có thể được chia thành nhiều loại, qua nghiên cứu cho thấy có 4 loại năng lực cơ bản cần cho người lao động mới trong xã hộ tri thức, giúp họ có khả năng hoàn thành nhiệm vụ một cách chủ động và sáng tạo trong bối cảnh đầy thách thức hiện nay và tương lai.
Đó là [21]: Năng lực tư duy: Khả năng nghiên cứu , phân tích , tổ ng hơ ̣p, nhâ ̣n biế t vấ n đề. Hiể u nguyên nhân của vấ n đề cầ n đươ ̣c xử lý , giải quyết trong quá trình thực hiê ̣n nhiê ̣m vu ̣, công viê ̣c. Năng lực hành động : Khả năng tổ chức thực hiện công việc hiệu quả , hoàn thành nhiệm vụ trong điều kiện thực tiễn phức tạp. Năng lực quan hê ,̣ giao tiế p, thuyế t phục , lãnh đạo, làm việc với người khác : Khả năng quan hê ̣, giao tiế p hiê ̣u quả , thuyế t phu ̣c, truyề n cảm hứng cho mo ̣i người để cùng thực hiện tốt nhất công việc.
Năng lực tiế p thu , đổ i mới, sáng tạo và phát triển : Khả năng liên tu ̣c câ ̣p nhâ ̣t thông tin , tiế p thu kiế n thức và học tập trong quá trình thực hiện công việc , luôn tim ̀ tòi những ý tưởng mới. Hiện nay, người ta quan tâm nhiều đến việc phát triển năng lực hành động (professtional action compentency). Năng lực hành động của mỗi cá thể được tổ hợp bởi các năng lực nhất định, chủ yếu bao gồm [16]: năng lực chuyên môn, năng 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com lực phương pháp, năng lực xã hội và năng lực cá thể. Những năng lực này không tách rời nhau mà có mối quan hệ chặt chẽ.
Năng lực hành động được hình thành và phát triển trên cơ sở có sự kết hợp các năng lực này. Năng lực của học sinh Trung học phổ thông [33] Trong đề tài nghiên cứu khoa học của Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam năm 2007, tác giả Nguyễn Thị Minh Phương cho rằng: “Năng lực cần đạt của HS THPT là tổ hợp nhiều khả năng và giá trị được cá nhân thể hiện thông qua các hoạt động có kết quả” [33, tr. Theo đó, chúng tôi quan niệm năng lực cần đạt của HS THPT thuộc phạm trù của thuật ngữ “competency”, là tổ hợp nhiều kĩ năng và giá trị được cá nhân thể hiện để mang lại kết quả cụ thể. Kĩ năng có bản chất tâm lí, nhưng có hình thức vật chất là hành vi hoặc hành động.
Vì vậy kĩ năng mà chúng ta nhìn thấy, nghe thấy, cảm nhận được chính là biểu hiện đang diễn ra của năng lực. Theo cách hiểu này, kĩ năng chung là sự tổng hòa nhiều kĩ năng riêng biệt có thể chuyển biến linh hoạt tùy theo bối cảnh. Chúng được hình thành và phát triển qua nhiều hoạt động tích cực (học tập, vui chơi), qua việc ứng xử hoặc xúc tiến quan hệ nào đó. Ví dụ, khi nói “kĩ năng giải bài tập hóa học” thì phải hiểu đó là sự tổng hòa nhiều kĩ năng cụ thể như: kĩ năng phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa, kĩ năng sử dụng kí hiệu hóa học, kĩ năng vận dụng kiến thức, kĩ năng sử dụng máy tính… Đồng thời tác giả cũng đề xuất bốn nhóm năng lực thể hiện khung năng lực cần đạt cho HS phổ thông Việt Nam [33, tr.43-44]: Năng lực nhận thức đòi hỏi HS phải có các khả năng quan sát, ghi nhớ, tư duy (độc lập, logic, trừu tượng…), tưởng tượng, suy luận, tổng hợp – khái quát hóa, phê phán – bình luận, từ đó có khả năng phát hiện vấn đề, khả năng tự học, tự trau dồi kiến thức trong suốt cuộc đời.
Năng lực xã hội đòi hỏi HS phải có những khả năng giao tiếp, thuyết trình, giải quyết các tình huống có vấn đề, vận hành được các cảm xúc, có khả năng thích ứng, khả năng cạnh tranh cũng như khả năng hợp tác… Năng lực thực hành (hoạt động thực tiễn) đòi hỏi HS phải có các vận dụng tri thức (từ bài học cũng như từ thực tiễn), thực hành một cách linh hoạt (tích cực-chủ 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com động), tự tin; có khả năng sử dụng các công cụ cần thiết, khả năng giải quyết vấn đề, sáng tạo, có tính kiên trì… Năng lực cá nhân được thể hiện qua khía cạnh thể chất, đòi hỏi trước hết HS có khả năng vận động linh hoạt, phải biết chơi thể thao, biết bảo vệ sức khỏe, có khả năng thích ứng với môi trường; tiếp đó là khía cạnh hoạt động cá nhân đa dạng khác nhau như khả năng lập kế hoạch, khả năng tự đánh giá, tự chịu trách nhiệm… Như vậy, những năng lực của HS được đánh giá gồm: năng lực nhận thức (bao gồm kĩ năng đọc, thu thập thông tin, tích lũy thông tin và sử dụng thông tin), năng lực xã hội, năng lực giao tiếp, năng lực hợp tác (kĩ năng của HS phối hợp với các HS khác hoặc với GV trong khi học hoặc khi làm để hoàn thành các nhiệm vụ được giao), năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề, NLVDKT, năng lực thích ứng với môi trường. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi đi sâu nghiên cứu về NLVDKT của HS THPT. Sự phát triển năng lực của học sinh Trung học phổ thông Với những cơ hội và thách thức của việc gia nhập WTO, vấn đề đầu tiên đặt ra cho cả hệ thống giáo dục của chúng ta hiện nay chính là vấn đề phát triển năng lực. Một chiến lược phát triển năng lực quốc gia phù hợp, phải do chính chúng ta tự xây dựng và triển khai.
Tuy nhiên, kinh nghiệm quốc tế có thể cung cấp những thông tin tham khảo bổ ích cho công việc này. Dưới đây, xin được trình bày về một số phần cấu thành quan trọng của chiến lược phát triển năng lực được nêu ra tại Hội nghị quốc tế "Chiến lược phát triển năng lực: hãy để cho thực tiễn lên tiếng" do UNDP tổ chức tại Madrid, Tây Ban Nha từ ngày 27 và 28-11-2006 Một là, dự báo về năng lực. Chúng ta đang có năng lực gì và đang có đến đâu? Những năng lực thiếu hụt là những năng lực gì? Những năng lực gì sẽ là không thể thiếu trong thời gian sắp tới? Cũng như dự báo thời tiết, dự báo năng lực có những công cụ đặc trưng của nó. Vấn đề là chúng ta cần phải làm chủ các công cụ này.
9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Hai là, hệ thống dịch vụ tri thức và học tập. Việc phát triển hệ thống dịch vụ tri thức và học tập phải là một trong những việc cần làm ngay. Ba là, phát triển năng lực lãnh đạo. Năng lực lãnh đạo là phần cấu thành quan trọng hàng đầu trong năng lực của quốc gia.
một kế hoạch với những giải pháp và nguồn lực cần thiết để phát triển năng lực lãnh đạo chính là một trong những công việc cấp bách hiện nay. Bốn là, cải cách thể chế và quản trị quá trình thay đổi.