đặt vấn đề nghiên cứu có đòi hỏi sự khái quát hóa; Quá trình luyện tập các kỹ năng, nêu ra định nghĩa, phân loại sự kiện; Hệ thống bài tập, câu hỏi có sự vận dụng tri thức đã thu nhận được; Sự ghi nhớ, rèn luyện các kỹ năng, kỹ xảo. Nguyên tắc 3: Dạy học không chỉ hướng vào việc cung cấp kiến thức lý thuyết mà quan trọng hơn cần hình thành năng lực hoạt động trí tuệ, hình thành các phẩm chất tư duy và hình thành phương pháp hoạt động. + Các bài luyện tập kỹ năng, kỹ xảo cần phải đa dạng, mức độ phức tạp tăng dần và có sự sáng tạo trong việc vận dụng kiến thức. Trong giờ ôn tập có sự hệ thống hóa, đào sâu, mở rộng kiến thức giúp tìm tòi mối liên hệ logic 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com giữa các khái niệm đã học.
Đây là quá trình học tập giúp nắm vững kiến thức một cách hệ thống, vững chắc và sâu sắc hơn. Nguyên tắc 4: Trong dạy học phải tích cực quan tâm tới sự lĩnh hội kiến thức của tất cả các đối tượng HS (khá giỏi, trung bình, yếu, kém) chỉ đạo hoạt động trí tuệ của HS theo năng lực của bản thân làm cho HS tư duy tích cực để vượt chướng ngại, nhận thức bằng hoạt động tự lập, độc lập. Như vậy các nguyên tắc đều hướng tới các hoạt động điều khiển của GV nhằm tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS trong đó chú ý đến việc dạy HS theo phương pháp học tập, phương pháp hoạt động trí tuệ, hình thành năng lực giải quyết vấn đề và khả năng tự đánh giá kết quả học tập của mình. Như vậy năng lực nhận thức có mối liên quan trực tiếp với tư duy, năng lực nhận thức, năng lực trí tuệ phát triển khi tư duy phát triển.
Tƣ duy và sự phát triển tƣ duy [11, 14, 16 , 21] 1. Khái niệm tư duy Theo tâm lí học: Tư duy là quá trình nhận thức phản ánh một cách gián tiếp, khái quát những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ và quan hệ có tính quy luật của sự vật và hiện tượng mà trước đó ta chưa biết. Theo logic học: Tư duy là quá trình phản ánh hiện thực một cách gián tiếp, khái quát. Sự phản ánh thế giới xung quanh bằng tư duy là giai đoạn nhận thức lí tính.
Xét khái niệm tư duy ở các góc độ thì đều cho thấy: tư duy là hoạt động trí tuệ giúp con người tạo ra hoặc giải quyết một vấn đề, đưa ra một quyết định hoặc có thêm một sự hiểu biết. Đó là tìm kiếm cái mới từ những kiến thức và kinh nghiệm đã có. Những đặc điểm của tư duy Các đặc điểm của tư duy bao gồm - Tính có vấn đề của tư duy: Khi gặp những hoàn cảnh, những tình huống mà vốn hiểu biết cũ, phương pháp hành động đã biết của con người 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com không đủ để giải quyết, lúc đó con người rơi vào hoàn cảnh có vấn đề, khi đó con người phải có tư duy. - Tính khái quát của tư duy: Tư duy có khả năng phản ánh những thuộc tính chung, những mối liên hệ, quan hệ có tính quy luật của hàng loạt sự vật, hiện tượng.
- Tính gián tiếp của tư duy: Trong tư duy, con người phản ánh thế giới một cách gián tiếp - phản ánh bằng ngôn ngữ. - Tư duy có quan hệ mật thiết với ngôn ngữ, ngôn ngữ là phương tiện của tư duy. Nhờ ngôn ngữ mà con người nhận thức được hoàn cảnh có vấn đề, đặt ra được vấn đề cần giải quyết, nhờ ngôn ngữ mà con người tiến hành các thao tác tư duy. Sản phẩm của tư duy là các khái niệm, phán đoán, suy nghĩ được biểu đạt bằng ngôn ngữ.
- Tư duy và nhận thức cảm tính có quan hệ chặt chẽ bổ sung cho nhau, chi phối lẫn nhau trong hoạt động nhận thức thống nhất. Tư duy thường được bắt đầu từ nhận thức cảm tính, trên cơ sở nhận thức cảm tính mà nảy sinh hoàn cảnh có vấn đề. Trong quá trình diễn biến, tư duy phải sử dụng nguồn tài liệu do nhận thức cảm tính đem lại. Ngược lại, tư duy và những kết quả của nó chi phối khả năng phản ánh của cảm giác và tri giác làm cho khả năng cảm giác của con người tinh vi, nhạy bén hơn, làm cho tri giác của con người mang tính lựa chọn, tính ý nghĩa.
Như vậy quá trình tư duy là khâu quan trọng nhất của quá trình nhận thức, nhờ đó GV hướng dẫn tư duy khoa học cho HS trong suốt quá trình dạy học hóa học. Những phẩm chất của tư duy - Tính định hướng: Ý thức nhanh chóng và chính xác đối tượng cần lĩnh hội, mục đích phải đạt và những con đường tối ưu để đạt mục đích đó. - Bề rộng: Thể hiện ở chỗ có khả năng vận dụng kiến thức vào việc nghiên cứu các đối tượng khác. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Độ sâu: Thể hiện khả năng nắm vững ngày càng sâu sắc bản chất của sự vật, hiện tượng.
- Tính linh hoạt: Thể hiện ở sự nhạy bén trong việc vận dụng những tri thức và cách thức hành động vào các tình huống khác nhau một cách sáng tạo. - Tính mềm dẻo: Thể hiện ở hoạt động tư duy được tiến hành theo các hướng xuôi và ngược. - Tính độc lập: Thể hiện ở chỗ tự mình phát hiện được vấn đề, đề xuất cách giải quyết vấn đề. - Tính khái quát: Thể hiện ở chỗ khi giải quyết mỗi loại nhiệm vụ sẽ đưa ra mô hình khái quát.
Từ mô hình khái quát này có vận dụng để giải quyết các nhiệm vụ cùng loại. Để đạt được những phẩm chất tư duy trên, trong quá trình dạy học GV cần rèn cho HS các thao tác tư duy. Những thao tác tư duy và phương pháp hình thành phán đoán mới 1. Khái niệm Theo định nghĩa thì khái niệm là một tư tưởng phản ánh những dấu hiệu bản chất khác biệt của sự vật hiện tượng.
Khái niệm có vai trò quan trọng trong tư duy. Nó là điểm đi tới và cũng là điểm xuất phát của một quá trình tư duy. Khái niệm được xây dựng trên cơ sở những thao tác của tư duy, nó là điểm tựa cho tư duy phân tích và là cơ sở để đào sâu kiến thức, tiến tới xây dựng kiến thức mới. Ngoài ra các hoạt động suy luận khái quát hóa, trừu tượng hóa nhờ có khái niệm mới có cơ sở để tư duy và đi sâu vào bản chất của hiện tượng.
Để có sự phân biệt khái niệm, logic học còn chia khái niệm thành khái niệm đơn, khái niệm chung, khái niệm tập hợp. Trên cơ sở sự hiểu biết về khái niệm như thế có thể giới hạn và mở rộng khái niệm. Khả năng giới hạn 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com và mở rộng khái niệm tùy thuộc vào nội dung kiến thức khoa học và chất lượng tư duy. Trong quá trình tư duy khái niệm như là một công cụ tư duy.
Nội dung khoa học cho khái niệm một nội hàm xác định. Khi ta nói hóa vô cơ tức là đã dùng thuật ngữ khoa học. Thuật ngữ sinh ra từ bản thân khái niệm và được xây dựng định hình trong quá trình hiểu biết. Các hoạt động suy luận khái quát hóa, trừu tượng hóa nhờ có khái niệm mới có cơ sở thao tác và đồng thời đi sâu thêm vào bản chất của sự vật hiện tượng.
Rõ ràng nếu khái niệm không xác định được nội hàm cũng như ngoại diên của nó thì chắc chắn sẽ dẫn tới những phân tích mơ hồ, suy luận phán đoán lệch lạc. Nếu phân chia khái niệm thiếu cân đối, thiếu cơ sở, không liên tục thì kiến thức chắc sẽ dễ dàng lệch lạc. Những hạn chế đó tiếp diễn thường xuyên thì chất lượng tư duy không đảm bảo. Cho nên trong quá trình truyền thụ kiến thức, biết phát hiện những hạn chế đó trên nguyên tắc logic trong tư duy, người GV sẽ góp phần xây dựng phương pháp tư duy cho HS.
Phán đoán Phán đoán được sử dụng như là những câu ngữ pháp nhằm liên kết các khái niệm do đó nó cũng có các quy tắc, quy luật bên trong. Trên cơ sở những khái niệm, phán đoán chính là hình thức mở rộng, đi sâu vào tri thức. Muốn có phán đoán chân thực, khái niệm phải chân thực, nhưng có những khái niệm chân thực chưa chắc có phán đoán chân thực. Ví dụ: “Tất cả các kim loại đều tác dụng với axit HCl”.
Phán đoán này không chân thực mặc dù kim loại là một khái niệm chân thực. Cũng có khái niệm chân thực, phán đoán chân thực nhưng không đầy đủ. Như vậy, nếu khái niệm chân thực như là điều kiện tiên quyết của phán đoán thì những quy tắc, quy luật sẽ giúp cho phán đoán chân thực hơn. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Cấu trúc của phán đoán bao gồm: chủ ngữ (S), vị ngữ (P).
- Phán đoán khẳng định với sự tham gia của tiểu từ “là” S “là” P - Phán đoán phủ định với sự tham gia của tiểu từ “không là” S “không là” P Một phán đoán là chân thực hay giả dối thay đổi tùy thuộc vào hình thức diễn đạt của nó. Những hình thức trong ngôn ngữ không phải lúc nào cũng được diễn đạt một cách rõ ràng. Nên để có sự khẳng định chân thực hay giả dối toàn bộ thì các phán đoán phải được đặt trong các trường hợp cụ thể. Tóm lại trong các thao tác tư duy người ta luân phải chứng minh để khẳng định hoặc phủ định, phải bác bỏ các luận điểm sai để tiếp cận chân lí.
Tuân thủ các nguyên tắc logic trong phán đoán sẽ tạo được hiệu quả cao. Hình thành phán đoán mới Trong logic học, người ta thường biết có ba phương pháp hình thành những phán đoán mới: quy nạp, diễn dịch và loại suy. Ba phương pháp này có quan hệ chặt chẽ với những thao tác tư duy: so sánh, phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa. Quy nạp: Là cách phán đoán dựa trên sự nghiên cứu nhiều hiện tượng, trường hợp đơn lẻ để đi tới kết luận chung, tổng quát về những tính chất, những mối liên hệ tương quan bản chất nhất và chung nhất.
Ở đây sự nhận thức đi từ cái riêng biệt đến cái chung. Phép quy nạp giúp cho kiến thức được nâng cao và mở rộng. Suy diễn: Là cách phán đoán đi từ một nguyên lý chung đúng đắn tới một kết luận thuộc về trường hợp riêng lẻ đơn nhất. Phép suy diễn có tác dụng lớn làm phát triển tư duy logic và phát huy tính tự lập sáng tạo cho HS.