Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài Chương 2: Một số cơ sở lý luận về hành vu mua thực phẩm hữu cơ của người tiêu dùng Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Phân tích và đánh giá kết quả điều tra Chương 5: Thảo luận, đề xuất giải pháp, kết luận 7 Chương 2: Một số cơ sơ lý luận về hành vi mua thực phẩm hữu cơ của người tiêu dùng 2. Thực phẩm hữu cơ và thị trường thực phẩm hữu cơ 2. Khái niệm TPHC Định nghĩa về TPHC theo Hiệp hội nông nghiệp hữu cơ Việt Nam: TPHC là thực phẩm đã được chứng nhận hữu cơ của Văn phòng Hiệp hội nông nghiệp hữu cơ PGS Việt Nam, hệ thống đảm bảo cùng tham gia PGS, và được liên đoàn quốc tế các phong trào ngiệp hữu cơ IFOAM chấp nhận, đi kèm với các tiêu chuẩn quy định nhằm giám sát cách thức các thực phẩm đã được trồng, thu hoạch và chế biến đảm bảo các thực phẩm được trồng không sử dụng thuốc trừ sâu và thuốc diệt cỏ độc hại, các thành phần biến đổi gen GMO, thuốc kháng sinh hay hooc môn tăng trưởng nhân tạo. Tùy theo số phần trăm thành phần hữu cơ, sản phẩm thực phẩm hữu cơ được phân loại như sau: - Hữu cơ hoàn toàn: 100% hữu cơ, không thêm một chất nào khác - Hữu cơ: có trên 95% hữu cơ - Sản xuất với thành phần hữu cơ: có ít nhất 70% hữu cơ - Có thành phần hữu cơ: dưới 70% hữu cơ Theo nguồn gốc, có thể phân loại TPHC gồm TPHC động vật và TPHC thực vật.
TPHC thực vật là rau củ quả được trồng tự nhiên, tưới bón bằng phân thiên nhiên, không sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật, phân bón hóa học mà sử dụng phân thiên nhiên lấy từ xác động vật, phân trộn từ các cây cỏ mục nát, và được trồng trên những vùng đất riêng biệt đảm bảo 8 tiêu chuẩn của hữu cơ. TPHC động vật là thực phẩm từ động vật được nuôi ở những vùng riêng biệt đảm bảo thức ăn hay nước uống không có chất kích thích tăng trưởng, ngoại trừ thuốc kháng sinh để chữa bệnh trươc 90 ngày giết mổ. Theo một nghiên cứu năm năm của châu Âu, TPHC có giá trị dinh dưỡng hơn 50% so với các thực phẩm thông thường (Hạnh Nguyễn, 2014). Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu đã bác bỏ lập luận này (Brennan và cộng sự, 2003; Magkos và cộng sự, 2006).
Tuy nhiên, nghiên cứu này không nhằm mục đích minh chứng những luận điểm này, mà tập trung vào nghiên cứu nhận thức và quyết định mua TPHC của người tiêu dùng. Thị trường TPHC Việt Nam Sản xuất: Sản xuất nông nghiệp hữu cơ theo khái niệm của IFOAM chỉ mới bắt đầu được áp dụng ở Việt Nam vào những năm 1990 với một vài sáng kiến chủ yếu khai thác các sản phẩm tự nhiên như các loại gia vị và tinh dầu thực vật nhằm mục đích xuất khẩu (Simmons, Scott, 2008). Theo số liệu công bố của IFOAM (2012) năm 2010 Việt Nam có 19.272 hecta sản xuất nông nghiệp hữu cơ được chứng nhận, tương đương 0.19% diện tích canh tác, cộng với 11.650 hecta mặt nước nuôi trồng thủy sản hữu cơ và 2.565 rừng nguyên sinh để khai thác các sản phẩm hữu cơ tự nhiên. Theo Hiệp hội nông nghiệp hữu cơ Việt Nam, các sản phẩm hữu cơ đang được xuất khẩu gồm chè, tôm, gạo, quế, hồi, tinh đầu, song số lượng rất hạn chế.
Các sản phẩm hữu cơ đang được bán trên thị trường nội địa gồm rau, các loại thịt, ngũ cốc, các loại hạt, gia vị, sữa. Chứng nhận chất lượng: Việt Nam vẫn chưa có hệ thống các tiêu chuẩn quốc gia và khung pháp lý cho sản xuất, chứng nhận và giám sát chất lượng sản phẩm nông nghiệp hữu cơ. Hiện cả nước có 13 tổ chức bao gồm các nhóm nông dân sản xuất và doanh nghiệp được các tổ chức quốc tế chứng nhận đạt chuẩn để xuất khẩu sản phẩm hữu cơ. Tại Việt Nam, dưới sự tài trợ của ADDA trong dự án nông nghiệp hữu cơ và sự hỗ trợ của IFOAM, hệ thống PGS được xây dựng và triển khai thành công với sự tham gia đảm bảo của tất cả các bên liên quan trong chuỗi giá trị sản phẩm: người sản xuất, doanh nghiệp, cơ quan quản lý Nhà nước địa phương, người tiêu dùng.
Một số chứng nhận có độ tin cậy trên toàn thế giới đang có mặt tại Việt Nam gồm: chứng nhận hữu cơ theo tiêu chuẩn Mỹ - USDA, tiêu chuẩn châu Âu - EU, tiêu chuẩn Nhật Bản – JAS, tiêu chuẩn Úc – ACO, tiêu chuẩn Pháp – ECOCERT, tiêu chuẩn châu Âu – EU BIO, tiêu chuẩn Anh – Soil Association, chứng nhận hữu cơ theo tiêu chuẩn Canada. 9 Tên chứng nhận Nước Yêu cầu cấp 1 USDA Mỹ sản phẩm chứa 95% thành phần hữu cơ. Không cho phép sử dụng chất bảo quản tổng hợp và hầu hết các thành phần hóa học 2 ECOCERT Pháp Sản phẩm chứa 95% tổng thành phần nguồn gốc tự nhiên 3 JAS Nhật Sản phẩm chứa 95% tổng thành phần nguồn gốc tự nhiên 4 ACO Úc Bốn cấp độ, trong đó những sản phẩm chứa nguyên liệu hữu cơ dưới 70% chỉ thể hiện danh sách nguyên liệu trên tem nhãn 5 BIO Châu Âu Sản phẩm chứa 95% tổng thành phần nguồn gốc tự nhiên Bảng 2.1 – Các chứng nhận cho thực phẩm hữu cơ quốc tế phổ biến được phép lưu hành trên thị trường Việt Nam Thị trường nội địa: Thị trường nội địa cho sản phẩm nông nghiệp hữu cơ hiện chưa có số liệu thống kê chi tiết về chủng loại và số lượng sản phẩm hữu cơ được sản xuất và tiêu thụ hàng năm, cũng như chưa có số liệu về số lượng và chủng loại sản phẩm TPHC nhập khẩu cho tiêu dùng trong nước (Hạnh Nguyễn, 2014). Tuy nhiên, theo các nghiên cứu gần đây, tiêu dùng TPHC có xu hướng tăng tại các thành phố lớn Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, trong đó rau quả hữu cơ là loại TPHC phổ biến nhất.
Trên các thị trường này đã xuất hiện các cửa hàng chuyên doanh bán TPHC. Ngoài các loại sản phẩm được sản xuất trong nước, các loại TPHC nhập khẩu chủ yếu ở Malaysia, Úc, Đức, Nhật, Mỹ, …Các doanh nghiệp phân phối TPHC có mặt trên thị trường Việt Nam được chứng nhận PGS Việt Nam hiện nay gồm có Organica (thành phố Hồ Chí Minh). Đặc điểm của người tiêu dùng thực phẩm hữu cơ 2. Nhận thức và kiến thức người tiêu dùng về thực phẩm hữu cơ Mặc dù nhận thức về TPHC tăng cao, nhưng phần lớn người tiêu dùng không thực sự có kiến thức về những sản phẩm nhóm này.
Thậm chí ngay cả người tiêu dùng tại các nước tiên 10 phong trong tiêu dùng TPHC lẫn lộn các khái niệm như TPHC, thực phẩm sạch (Aarset và cộng sự, 2004). Một số nghiên cứu về thị trường TPHC tiến hành tại Việt Nam cho thấy phần lớn người tiêu dùng trên thị trường này không phân biệt được sự khác biệt giữa rau an toàn và rau hữu cơ (Scott, 2005). Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến sự nghi ngờ trong tiêu dùng các sản phẩm TPHC (Aarset và cộng sự, 2004; Hill, Lynchehaun, 2002). Những nghiên cứu về mối quan hệ giữa sự hiểu biết về TPHC và hành vi mua các sản phẩm này có hai luồng quan điểm trái ngược.
Nghiên cứu của Barnes và cộng sự (2009) kết luận mức độ hiểu biết về TPHC của người tiêu dùng tác động tích cực đến quyết định mua sản phẩm của họ, và người tiêu dùng có kiến thức về TPHC sẵn lòng trả giá cao hơn cho các sản phẩm đó (Chang, Zepeda, 2005). Tuy nhiên, những nghiên cứu của Gotschi và cộng sự (2010) về tiêu dùng TPHC trên thị trường Áo, nghiên cứu về thị trường TPHC Bỉ của Verdurme và công sự (2002) lại đưa ra những kết quả trái ngược. Những nghiên cứu của các tác giả này kết luận hiểu biết về TPHC không dẫn tới thái độ tích cực đối với sản phẩm TPHC, đồng thời cũng không ảnh hưởng đến quyết định mua sản phẩm TPHC. Đặc điểm nhân khẩu học của người tiêu dùng thực phẩm hữu cơ Những nghiên cứu về TPHC đều nhất trí có mối liên hệ mật thiết giữa đặc điểm nhân khẩu học gồm độ tuổi, trình độ học vấn, thu nhập với hành vi tiêu dùng TPHC (Lea, Worsley, 2005; Tsakiridou và cộng sự, 2008).
Nhóm người tiêu dùng có thu nhập và trình độ học vấn cao hơn quan tâm đến các vấn đề an toàn thực phẩm và môi trường nhiều hơn (Tsakiridou và cộng sự, 2008), đây cũng là nhóm khách hàng hiện tại tiêu dùng các sản phẩm TPHC (Connor, Douglas 2001). Nghiên cứu tại thị trường Nhật Bản của Gendall và cộng sự (1999) về đặc điểm người tiêu dùng TPHC cũng kết luận khách hàng tiêu dùng sản phẩm TPHC có trình độ cao, thu nhập cao hơn những người không phải khách hàng tiêu dùng TPHC. Họ sống ở trung tâm thành phố, và quan tâm đến các vấn đề về môi trường và an toàn thực phẩm. Các nghiên cứu cũng chỉ ra khách hàng mục tiêu của TPHC là phụ nữ, độ tuổi 30 - 45, đã lập gia đình và có con (Davies và cộng sự, 1995).
Giới tính Một trong những biến quan trọng nhất trong nhóm biến nhân khẩu học ảnh hưởng đến tiêu dùng TPHC là giới tính. Nghiên cứu của các học giả Lea, Worsley (2005); Tsakiridou và cộng sự (2006) kết luận phụ nữ có thái độ tích cực đối với TPHC hơn, và đây cũng là đối tượng khách hàng thường xuyên hơn của các loại sản phẩm này. Kết luận này cũng tương 11 đồng với kết quả ngiên cứu hiếm hoi về nhận thức về TPHC trên thị trường Việt Nam của Truong, Yap (2010), nghiên cứu về người tiêu dùng rau hữu cơ tại Việt Nam của Veerapa và cộng sự (2013). Luận giải cho sự tích cực đối với TPHC của nữ giới, các học giả cho rằng do phụ nữ là người mua sắm thực phẩm cho gia đình vì vậy họ nhận thức về TPHC cao hơn những nhóm khác.
Nghiên cứu của Truong, Yap (2010) cũng chỉ ra phụ nữ Việt Nam cho rằng TPHC có giá trị dinh dưỡng cao hơn, vị ngon hơn, tự nhiên hơn các thực phẩm được sản xuất theo phương thức truyền thống, do vậy họ chấp nhận mua sản phẩm TPHC với giá cao. Người tiêu dùng rau hữu cơ tại Việt Bam được nhóm nghiên cứu của Veerapa và cộng sự (2013) nhận diện là nữ giới, độ tuổi 25-40, đã lập gia đình, có con nhỏ hoặc đang có bầu, học vấn cao, thu nhập trên trung bình. Nhận định này, tuy nhiên, trái ngược với một số nghiên cứu trước đó cho rằng mặc dù phụ nữ có thái độ tích cực trong việc tiêu dùng TPHC hơn nam giới, họ lại không sẵn lòng trả giá cao cho TPHC (Ureña, Bernabéu & Olmeda 2008).