CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH HÀNH VI 1. Lý thuyết tài chính truyền thống so với Lý thuyết Tài chính hành vi: Giả thuyết thị trường hiệu quả (EMH) ủng hộ các ý kiến cho rằng giá thực tế phản ánh giá trị cơ bản, khẳng định giá là đúng khi chúng được xác định bởi các NĐT, những người hợp lý hơn với những suy nghĩ đầu óc và hiểu luật, có liên quan đến xác suất có điều kiện (xác suất một sự kiện được đưa ra bởi một số khác). Theo EMH, mặc dù không phải tất cả các NĐT là hợp lý, thì thị trường vẫn được giả định là hợp lý. Hơn nữa, thay vì dự báo tương lai, thị trường được giả định là những dự báo không lệch lạc.
Khác với lý thuyết này, tài chính hành vi tin rằng đôi khi thị trường tài chính không hiệu quả về thông tin. Do thực tế rằng con người không luôn luôn hợp lý, những quyết định tài chính của họ có thể được điều khiển bởi những ý kiến mang tính hành vi. Lý thuyết tài chính hành vi là một phạm trù của ba trụ cột: Tâm lý học (Psychology), Xã hội học (Sociology), và Tài chính (Finance). Giữa những năm 1980 được coi là sự khởi đầu của lĩnh vực nghiên cứu này.
Thị trường chứng khoán đã được chứng minh là phản ứng thái quá với thông tin bởi DeBondt và Thaler (1985, tr. Hơn nữa, Shefrin và Statman (1985, tr.777) khẳng định rằng NĐT có xu hướng sẵn sàng bán cổ phiếu đang có lời của họ hơn là cổ phiếu đang thua lỗ ngay cả khi đặt những khoản đầu tư thua lỗ này vào mức giá là sự lựa chọn tốt nhất. Nếu những nghiên cứu này là bước khởi đầu của tài chính hành vi, thì lĩnh vực này đã có hơn hai thập kỷ phát triển. Lĩnh vực này nghiên cứu bổ sung cho những lý thuyết tài chính truyền thống (standard theories of finance) bằng việc giới thiệu hành vi tác động đến tiến trình ra quyết định.
Trái ngược với quan điểm của Markowitz và Sharp, tài chính hành vi liên quan đến cá nhân và cách thức thu thập, sử dụng thông tin. Nghiên cứu lý thuyết tài chính hành vi giúp hiểu và dự báo những dính líu giữa quá trình ra quyết định mang tính tâm lý với hoạt động tài chính. 123doc 7 Ban đầu, tài chính hành vi không được chấp nhận rộng rãi và nghiên cứu của DeBondt và Thaler không phải là một ngoại lệ vì nó bị nghi ngờ và phải đối mặt với rất nhiều tranh luận. Lúc đầu, hầu hết các nghiên cứu tập trung vào việc định giá tài sản, tuy nhiên, gần đây, những ảnh hưởng nhiều hơn lên NĐT hợp lý cái mà các nhà quản lý có thể gặp phải trong quá trình ra quyết định đã được đưa vào nhiều mô hình.
Barberis và Thaler được coi là một trong những nhà nghiên cứu nổi tiếng, người cung cấp một nghiên cứu xuất sắc về các loại lệch lạc hành vi khác nhau có ảnh hưởng đến việc ra quyết định đầu tư chứng khoán cũng như thị trường tài chính. Mặc dù là một lĩnh vực gây nhiều tranh cãi với các nhà nghiên cứu tài chính theo quan niệm truyền thống, nhưng tài chính hành vi đang dần khẳng định vị trí then chốt trong xu hướng tài chính ngày nay. Bằng sự gắn kết lý thuyết về hình thành tâm lý với ngành tài chính và kinh tế học cổ điển, tài chính hành vi là chìa khóa giúp tìm ra lời giải thích cho các quyết định liên quan đến kinh tế. Trước đây, quá trình nghiên cứu về tài chính hành vi không được tiến hành triệt để do quan niệm cho rằng NĐT chỉ cần quan sát người khác mua bán như thế nào và làm theo.
Đây được coi là cơ sở cho mọi quyết định giao dịch. Nghiên cứu về tài chính hành vi sẽ giúp giải mã cho các hoạt động giao dịch nên dựa trên hành vi của NĐT cá nhân hoặc tổ chức. Ví dụ, tài chính hành vi giúp lý giải nguyên nhân và biểu hiện của các thị trường hoạt động không hiệu quả. Các yếu tố hành vi tác động đến qui trình ra quyết định của NĐT: Tài chính hành vi dựa trên tâm lý cho rằng qui trình ra quyết định của con người gây ra một vài ảo tưởng nhận thức.
Những ảo tưởng này được chia thành hai nhóm: ảo tưởng gây ra bởi qui trình ra quyết định tự nghiệm và ảo tưởng bắt nguồn từ việc áp dụng các khung tinh thần được xếp vào nhóm thuyết triển vọng (Waweru và cộng sự, 2008, tr. Hai loại này cũng như tâm lý bầy đàn và các yếu tố thị trường được trình bày như sau: 123doc 8 1. Lý thuyết tự nghiệm - Heuristic theory: Tự nghiệm (Heuristics) còn được gọi là quy tắc “ngón tay cái, là phương pháp mà NĐT sử dụng để giảm thiểu sự tìm kiếm thông tin cần thiết để đưa ra giải pháp cho một vấn đề, tức là NĐT giải quyết vấn đề dựa vào kinh nghiệm.Tự nghiệm hay còn được gọi là quy tắc dựa vào kinh nghiệm theo một số tài liệu. Kahneman và Tversky dường như là một trong những tác giả đầu tiên nghiên cứu các yếu tố thuộc về Tự nghiệm khi giới thiệu ba yếu tố cụ thể là tính đại diện, lệch lạc do sẵn có, và neo quyết định (Kahneman và Tversky, 1974, tr.
Waweru và cộng sự cũng liệt kê hai yếu tố được đặt tên Ảo tưởng con bạc và Quá tự tin (Waweru và cộng sự, 2008, tr. Lệch lạc do tình huống điển hình (Representativeness): Lệch lạc này thường được diễn tả một cách đơn giản là xu hướng không quan tâm nhiều đến nhân tố dài hạn mà thường đặt nhiều quan tâm đến những nhân tố điển hình ngắn hạn. Điều này chủ yếu dựa vào những kinh nghiệm mà chúng ta có được trong quá khứ. Ngay từ khi mới sinh ra, con người đã có xu hướng phân loại các hiện tượng, sự vật và suy nghĩ.
Khi con người đối mặt với một hiện tượng mới, không hoàn toàn phù hợp với hiện tượng đã phân loại trước đó, họ cũng sẽ cố đưa chúng vào một tập hợp nào đó dựa trên những sự tương đồng đã kiếm được và từ đó sẽ định hình nên nền tảng để họ có thể hiểu biết về những nhân tố mới. Cách thức tiếp thu này cung cấp một công cụ hữu hiệu cho việc xử lý thông tin mới bằng cách đồng thời kết hợp với những kinh nghiệm có liên quan trong quá khứ. Tuy nhiên, dựa vào tình huống điển hình có thể tạo ra một số lệch lạc như suy ra xu hướng thị trường trong tương lai dựa trên một giai đoạn ngắn trong quá khứ mà xu hướng này không phải là quy luật chung. Tương tự, con người thường có xu hướng nhận biết xác suất của các vấn đề tương đồng với những ý tưởng trước đó của họ ngay cả khi kết quả nhận được không có ý nghĩa thống kê.
Ảo tưởng con bạc (Gambler’s fallacy): Niềm tin rằng một mẫu nhỏ có thể giống với mẫu lớn, xác suất xảy ra trong mẫu nhỏ cũng giống như trong mẫu lớn. Điều 123doc 9 này được biết đến như là “luật số nhỏ” (law of small numbers). Người có niềm tin này có thể dẫn đến “Ảo tưởng con bạc” (Barberis & Thaler, 2003, tr. Cụ thể hơn, trong thị trường chứng khoán, ảo tưởng con bạc phát sinh khi người ta dự đoán không chính xác các điểm hồi của thị trường (Waweru và cộng sự, 2008, tr.
Ngoài ra, khi người ta rơi vào tình trạng lệch lạc, họ có xu hướng lựa chọn những thay thế tối ưu đơn giản chỉ vì nó đã được lựa chọn trước đó. Neo quyết định (Anchoring): Là tâm lý khi cần ước lượng một giá trị với một độ lớn không biết, con người bắt đầu bằng hình dung bằng một vài số ước lượng ban đầu và ngầm định một “nguồn tin tưởng” mà sau đó họ sẽ điều chỉnh lên hoặc xuống theo các thông tin và sự phân tích. Ước lượng, điều chỉnh và đánh giá lại được hoàn thiện thành ước lượng cuối cùng. Do đó, mốc neo có thể xuất hiện với những con số rất vô nghĩa.
Quá tự tin (Overconfidence): Trạng thái tâm lý khi một người có niềm tin quá mức vào khả năng của họ, đánh giá và khả năng nhận thức mang tính trực giác. Trong việc ước lượng về khả năng xảy ra của một sự việc nào đó, họ thường đánh giá không chính xác vì họ cho rằng mình thông minh hơn hoặc thông tin mà họ nhận được tốt hơn những NĐT khác trên thị trường. Lý do gây ra tâm lý này là do xu hướng tìm kiếm thông tin mang tính bổ sung và củng cố thêm cho các thông tin mà các NĐT sẵn có và mong muốn được trở nên chuyên nghiệp và thành thạo hơn so với người khác. Tuy vây, tâm lý này ẩn chứa nhiều rủi ro cho NĐT.
Khi NĐT quá tự tin vào quyết định của mình, họ thường làm ngơ trước những thông tin trái chiều. Những người quá tự tin thường giao dịch tương đối lớn vì họ muốn nắm bắt tối đa các cơ hội mà mình có được từ các thông tin đặc biệt kia. Oberlechner & Osler (2004, tr.3) thì cho rằng việc quá tự tin có thể nâng cao khả năng nhận thức khác của một người, có thể giúp xúc tiến nhanh hơn và thời gian đầu tư nhiều hơn. Lệch lạc do sẵn có thông tin (Availability bias): Lệch lạc này xảy ra khi người sử dụng thông tin sẵn có quá dễ dàng.
Trong lĩnh vực giao dịch chứng khoán, lệch lạc 123doc 10 này biểu hiện thông qua các sở thích đầu tư vào các công ty địa phương mà các NĐT đã quen thuộc hoặc dễ dàng có được thông tin, mặc cho các nguyên tắc cơ bản được gọi là đa dạng hóa danh mục đầu tư để tối ưu hóa (Waweru và cộng sự, 2003, tr. Trong luận văn này, năm thành phần của Tự nghiệm: quá tự tin, ảo tưởng con bạc, lệch lạc do sẵn có thông tin, neo quyết định, và tình huống điển hình được sử dụng để đo lường mức độ tác động của chúng trên các quyết định đầu tư cũng như hiệu quả hoạt động đầu tư của các NĐT cá nhân tại TTCK Việt Nam. Thuyết triển vọng - Prospect Theory: “Lý thuyết triển vọng” (Prospect Theory): là một đóng góp quan trọng cho việc nghiên cứu kinh tế. Nó thách thức một số giả định cơ bản mà các nhà kinh tế đặt ra cho hành vi của con người.
Giáo sư tâm lý học người Mỹ Daniel Kahneman, một trong những nhà nghiên cứu theo hướng nghiên cứu này, đã đoạt được giải Nobel Kinh tế vào năm 2002, là người tạo nền tảng vững chắc cho việc xây dựng tài chính hành vi học với “Thuyết triển vọng”.