CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số định nghĩa và khái niệm Sức khỏe sinh sản Sức khỏe sinh sản là trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội mà không chỉ đơn thuần là không có bệnh tật hay ốm đau liên quan đến hệ thống sinh sản [3]. Chăm sóc sức khỏe sinh sản Chăm sóc SKSS là sự phối hợp các biện pháp kỹ thuật dịch vụ nhằm nâng cao chất lượng sức khỏe sinh sản làm cho sự hoạt động và chức năng của bộ máy sinh sản được tốt hơn, khỏe mạnh hơn bao hàm cả sức khỏe tình dục (SKTD) mục đích là làm cho cuộc sống có chất lượng và hạnh phúc hơn bằng cách phòng ngừa và giải quyết các vấn đề SKSS [3]. Giáo dục SKSS VTN là giáo dục VTN về các vấn đề tình dục và SKSS, cùng với những khía cạnh khác nhau của vấn đề này (như thể chất, tình cảm, quan hệ xã hội…).
Các nội dung giáo dục SKSS VTN thường được đề cập đến bao gồm các nội dung chính: tư vấn/giáo dục, dự phòng và điều trị (lâm sàng và cận lâm sàng). Có nhiều cách phân loại, nhưng nhìn chung các dịch vụ thông thường bao gồm: - Thông tin, giáo dục và truyền thông (về những thay đổi thể chất và tâm lý lứa tuổi VTN, vấn đề tình dục, phòng tránh HIV, dự phòng các vấn đề SKSS, sức khỏe tình dục (SKTD)). - Tư vấn về các vấn đề SKSS, SKTD cho VTN, thanh niên. - Chăm sóc trước sinh và sau sinh cho VTN, Thanh niên.
- Phá thai an toàn và dịch vụ sau phá thai cho VTN, thanh niên. - Dự phòng và điều trị bệnh lây truyển qua đường tình dục (BLTQĐTD), bao gồm HIV/AIDS. 5 - Dự phòng, điều trị và theo dõi bạo lực thể chất, tâm lý, tình dục, bạo lực trên cơ sở giới. Sức khỏe tình dục Sức khỏe tình dục là trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội mà không chỉ đơn thuần là không có bệnh tật hay rối loạn chức năng liên quan đến tình dục.
Nó đòi hỏi một cách tiếp cận tích cực và tôn trọng đối với tình dục và các mối QHTD, cũng như khả năng có những trải nghiệm tình dục hài lòng và an toàn, không bị ép buộc, phân biệt đối xử và bạo lực [3]. Tình dục an toàn Tình dục an toàn là tình dục không dẫn đến việc mang thai ngoài ý muốn và lây nhiễm các BLTQĐTD như: lậu, giang mai, HIV/AIDS. Vị thành niên Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), lứa tuổi VTN là từ 10 - 19 tuổi và thường được chia làm 3 giai đoạn: VTN sớm (10-13 tuổi), VTN giữa (14- 16 tuổi) và VTN muộn (17-19 tuổi) [3] Tuổi dậy thì Tuổi dậy thì là mốc đánh dấu sự trưởng thành về mặt sinh học của cơ thể. Dậy thì là một quá trình thường kéo dài khoảng 3-4 năm và được chia làm 2 giai đoạn: giai đoạn dậy thì và giai đoạn dậy thì hoàn toàn.
Đối với người Việt Nam; các em nữ dậy thì hoàn toàn vào khoảng 13-14 tuổi, đánh dấu bằng chu kỳ kinh nguyệt đầu tiên. Các em nam dậy thì hoàn toàn vào khoảng 14-15 tuổi, đánh dấu bằng lần xuất tinh không chủ động đầu tiên. Đặc điểm sức khỏe sinh sản vị thành niên 1. Những thay đổi về giải phẫu và sinh lý trong thời kỳ vị thành niên Sự phát triển cơ thể rõ rệt và dễ nhận thấy nhất là các dấu hiệu dậy thì.
Tuổi dậy thì ở các em nữ thường sớm hơn và trong khoảng từ 10-15 tuổi, các em nam trong khoảng từ 12-17 tuổi. Trong giai đoạn dậy thì, các nội tiết tố sinh dục (estrogen và tetosteron) tăng dần, cơ quan sinh dục phát triển và cơ thể chuẩn bị 6 sẵn sàng cho hoạt động sinh sản. Biểu hiện rõ rệt ở các em nữ là hiện tượng kinh nguyệt và ở em nam là hiện tượng xuất tinh [4]. - Dậy thì ở các em nữ Phát triển núm vú, quầng vú.
Mọc lông sinh dục: lông mu, lông nách Tử cung, âm đạo, buồng trứng phát triển to ra, xương hông nở ra. Phát triển chiều cao nhanh chóng Xuất hiện kinh nguyệt Các tuyến bã hoạt động mạnh, xuất hiện trứng cá - Dậy thì ở các em nam Tinh hoàn và dương vật to lên, da tinh hoàn sẫm màu lại. Thanh quản mở rộng, vỡ tiếng, yết hầu lộ ra Tăng trưởng nhanh chóng về chiều cao, các xương dài phát triển, cơ bắp ở vai, ngực, cánh tay. Xuất hiện lông mu, ria mép.
Có xuất tinh (thường là mộng tinh hay còn gọi là “giấc mơ ướt”) Các tuyến bã hoạt động mạnh, có trứng cá. Những mong muốn và quyền của vị thành niên về sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục - Phát triển tốt về chiều cao, cân nặng. - Không ốm đau bệnh tật. - Có khả năng tránh được ma túy, rượu và các chất gây nghiện.
- Phát triển nhân cách tốt, được mọi người coi trọng. - Có quyền được thông tin đầy đủ, chính xác về sức khỏe/SKSS/SKTD. - Có quyền tiếp cận các dịch vụ chăm sóc SKSS/SKTD phù hợp và có chất lượng. - Có quyền được đối xử bình đẳng, tôn trọng, không bị cưỡng bức, bạo hành.
- Có quyền tự quyết định và chịu trách nhiệm về quyết định của mình trong 7 các vấn đề liên quan đến sức khỏe/SKSS/SKTD. - Có quyền được lựa chọn kết hôn hay không, có QHTD hay không, khi nào, với ai, có con hay không… trên cơ sở được thông tin đầy đủ, được giáo dục về kỹ năng sống và phù hợp với pháp luật. Một số nghiên cứu về thực trạng chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên và các yếu tố liên quan 1. Một số nghiên cứu về thực trạng chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên 1.
Các nghiên cứu trên thế giới Các ước tính của Liên hợp quốc chỉ ra rằng năm 2019 có khoảng 1,21 tỷ thanh thiếu niên từ 15 đến 24 tuổi, chiếm 15.5% dân số toàn cầu và con số này năm 2030 sẽ đạt 1.29 tỉ, chiếm khoảng 13. Đặc biệt phần lớn tập trung tại các quốc gia có dân số trẻ, tốc độ tăng trưởng dân số nhanh, mặc dù vậy đây cũng là nhóm bao gồm nhiều quốc gia kém phát triển nhất [66]. QHTD sớm khi thiếu các kiến thức về SKSS và biện pháp tránh thai (BPTT) làm cho các VTN gặp nhiều các nguy cơ như: thai nghén ngoài ý muốn, nạo phá thai, mắc BLTQĐTD và HIV/AIDS. Theo ước tính của WHO, mỗi năm có khoảng 374 triệu người mắc một trong 4 BLTQĐTD gồm chlamydia, lậu, giang mai và trichomonas [70].
Theo Bộ Y tế, trên thế giới bình quân mỗi ngày có khoảng 7.000 thanh thiếu niên, hay mỗi phút có 5 thanh thiếu niên tuổi 20-24 bị nhiễm HIV. Riêng khu vực Châu Á - Thái Bình Dương mỗi năm ước tính có khoảng 700.000 thanh thiếu niên bị nhiễm HIV. Báo cáo Khảo sát về tình trạng phá thai tại Mỹ năm 2013 cho thấy tỉ lệ phá thai ở nhóm tuổi dưới 15 tuổi và từ 15-19 tuổi tại Mỹ chiếm 0,3% và 11,4% trong tổng số các trường hợp phá thai; tương ứng với tỉ lệ 0,6/1. Rõ ràng việc các VTN QHTD sớm và không an toàn đã để lại những hậu quả vô cùng nghiêm trọng cho bản thân VTN, cũng như là gánh nặng cho toàn xã hội [53].
Một nghiên cứu gần đây ở một vùng nông thôn ở Ethiopia cho thấy chỉ có 2/3 8 số VTN biết về chăm sóc SKSS, và 1/5 trong số họ sử dụng các dịch vụ chăm sóc có sẵn trong địa bàn. Nghiên cứu này cũng phân tích một số lý do tại sao VTN lại hạn chế kiến thức về SKSS. Đó là những rào cản về văn hoá cho rằng đề cập đến vấn đề tình dục, SKSS là vi phạm đạo đức. Thiếu chia sẻ thông tin cũng là một thách thức ngăn cản VTN khó tiếp cận được với những kiến thức về SKSS [45].
Hơn thế nữa, khi cộng đồng, gia đình và xã hội không xem việc chăm sóc SKSS cho VTN là quan trọng thì sẽ không đầu tư đúng với nhu cầu cần có. Với thực trạng đó, cộng đồng nói chung và VTN nói riêng thường ngại ngùng khi nói chuyện, tìm hiểu về các vấn đề về SKSS/SIKTD dẫn đến thiếu hiểu biết và hạn chế tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sẵn có [45]. Cũng trong nghiên cứu này, liên quan đến kiến thức về mang thai và các BPTT, hơn một nửa số VTN biết về thời điểm có thể mang thai khi có QHTD. Khoảng 2/3 số VTN biết về các BPTT, và tỷ lệ VTN nam biết cao hơn nữ (69,3% so với 63,9%) [45].
Theo Fatuma A Ahmed và cs (2012) trên 368 người tại Ethiopian cho thấy có 23,4% đối tượng đã QHTD, trong đó khoảng 42,0% đối tượng có QHTD không được bảo vệ. Trong số những người QHTD không an toàn, đa số (84,2%) đã nghe nói về BPTT khẩn cấp và 75,0% đã từng sử dụng các BPTT khẩn cấp này [45]. Nghiên cứu của Laura M. Miller (2011) trên 692 đối tượng ở Pennsylvania, Edinboro, Mỹ cho thấy 83,0% đối tượng đã có kinh nghiệm QHTD, 74% đã nghe nói về ngừa thai khẩn cấp.
Tuy nhiên, ít hơn một phần ba biết tình trạng đơn thuốc, tác dụng phụ phổ biến hoặc các cơ chế của BPTT khẩn cấp [59]. Nghiên cứu của Zhou Hong và cs tại Trung Quốc năm 2012 cho thấy 18,5% số người được hỏi đã QHTD; nam sinh đã QHTD nhiều hơn nữ sinh (p <0,001). Trong số các đối tượng đã QHTD, 43,1% nam sinh đã làm bạn gái có thai và 49,3% nữ sinh có thai ngoài ý muốn hầu hết đối tượng nghiên cứu còn thiếu kiến thức về SKSS và chỉ có 17,9% số người được hỏi biết thời điểm thích 9 hợp của việc phá thai [72]. Một trong những yếu tố quan trọng nhất dẫn đến tình trạng mang thai ngoài ý muốn, nạo phá thai không an toàn để lại hậu quả nặng nề về sức khoẻ ở VTN là thiếu kiến thức về SKSS và SKTD.
Thêm vào đó nhiều VTN nữ mang thai, sinh đẻ khi còn ở độ tuổi đi học cũng là một nguyên nhân dẫn đến việc phải rời ghế nhà trường. Điều này dẫn tới trình độ học vấn thấp, kết hợp với sức khoẻ hạn chế sẽ góp phần làm cho vai trò của phụ nữ thấp kém hơn so với nam giới cả ở gia đình và xã hội [59].