Hành Động Ngôn Ngữ Trách trong Tiếng Việt và Việc Sử Dụng của Giáo Viên ở Môi Trường Sư Phạm

Nghiên cứu về hành động ngôn ngữ trách trong tiếng Việt, phân tích cách giáo viên sử dụng trong môi trường sư phạm. Luận án tiến sĩ ngôn ngữ học chi tiết.

Chuyên ngành

Ngôn ngữ học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2022

200
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Nghiên Cứu Hành Động Ngôn Ngữ Trách 55 Ký Tự

Nghiên cứu hành động ngôn ngữ là hướng ứng dụng lý thuyết ngữ dụng học. Tại Việt Nam, việc vận dụng lý thuyết này vào nghiên cứu hành động ngôn ngữ tiếng Việt khá phổ biến. Các nghiên cứu cung cấp tri thức về dụng học Việt ngữ, đồng thời định hình đặc trưng về văn hóa giao tiếp và phong cách của người Việt. Những nghiên cứu này cần thiết và có ý nghĩa kiểm nghiệm, khắc sâu hơn lý thuyết ngữ dụng học.

1.1. Tổng Quan Lý Thuyết Về Hành Động Ngôn Ngữ Trách

Khi một người mắc lỗi, người có quyền lợi hoặc nghĩa vụ liên quan sẽ dùng các hành động ngôn ngữ như chê, trách, mắng, phê bình để phản ứng. Tùy mức độ sai phạm, người nói có xu hướng sử dụng hành động ngôn ngữ trái ngược nhau. Tích cực thì phân tích, giảng giải, khuyên nhủ. Tiêu cực thì chê, trách, mắng, phê bình. Một lời trách, nếu được sử dụng hợp lý, có thể đem tới cảm giác nhẹ nhàng hơn so với các hành động ngôn ngữ khác.

1.2. Hành Động Ngôn Ngữ Trách Trong Môi Trường Giao Tiếp

Hành động tráchhành động ngôn ngữ có bản chất đe dọa thể diện người giao tiếp. Việc sử dụng hành động này phổ biến trong giao tiếp hàng ngày, đặc biệt giữa giáo viên (GV) và học sinh (HS) trong môi trường sư phạm. Nhiều trường hợp, hành động trách được thực hiện tích cực, giảm mức độ đe dọa thể diện. Tuy nhiên, cũng có những trường hợp tiêu cực, làm tăng mức độ đe dọa thể diện của người nghe. Việc nghiên cứu hành động trách là cần thiết để thấy được giá trị tích cực và hạn chế, từ đó đề xuất cách sử dụng lịch sự và hữu dụng hơn.

II. Thách Thức Sử Dụng Hành Động Trách Hiệu Quả 57 Ký Tự

Việc sử dụng các hành động ngôn ngữ theo hướng tiêu cực tiềm ẩn nguy cơ đe dọa thể diện, vi phạm chuẩn mực lịch sự, gây bất đồng giao tiếp. Trong những năm gần đây, Bộ Giáo dục và Đào tạo có chương trình nâng cao giá trị hạnh phúc cho HS và GV. Thông tư số: 06/2019/TT-BGDĐT quy định rõ cách ứng xử với người học, trong đó có ứng xử bằng ngôn ngữ, tránh xúc phạm, gây tổn thương. Do đó, nghiên cứu hành động trách trong tiếng Việt sẽ góp phần vào việc nhận diện và đề xuất sử dụng một cách thiết thực.

2.1. Đảm Bảo Tính Chuẩn Mực Trong Hành Động Ngôn Ngữ Trách

Thông tư 06/2019/TT-BGDĐT quy định cách ứng xử với người học bằng ngôn ngữ chuẩn mực, dễ hiểu, khen hoặc phê bình phù hợp với đối tượng và hoàn cảnh. Giáo viên cần mẫu mực, bao dung, trách nhiệm, yêu thương, tôn trọng sự khác biệt, đối xử công bằng, tư vấn, lắng nghe và động viên học sinh. Đồng thời, tích cực phòng chống bạo lực học đường, xây dựng môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh. Vì vậy, việc nghiên cứu và ứng dụng hành động ngôn ngữ trách một cách khéo léo là điều cần thiết.

2.2. Giảm Thiểu Nguy Cơ Gây Tổn Thương Trong Giao Tiếp

Nghiên cứu sâu về hành động trách hướng đến mục đích chung là đưa ra khuyến nghị sử dụng hành động hiệu quả trong giao tiếp, đặc biệt ở khía cạnh lịch sự, giữ gìn và nâng cao thể diện. Nghiên cứu cũng đóng góp thêm nguồn ngữ liệu cho việc nghiên cứu, học tập và giảng dạy các hành động ngôn ngữ trong tiếng Việt. Cần nghiên cứu kỹ về sắc thái, cường độ của các hành động ngôn ngữ để tránh gây tổn thương cho học sinh.

III. Nghiên Cứu Hành Động Ngôn Ngữ Trách Mục Tiêu Nhiệm Vụ 58 Ký Tự

Mục đích nghiên cứu là chỉ ra đặc điểm của hành động trách trong tiếng Việt và đặc thù của việc sử dụng hành động trách của GV trong môi trường sư phạm. Trên cơ sở đó, đưa ra khuyến nghị về cách thức sử dụng hành động trách theo hướng tích cực, tránh tiêu cực theo phép lịch sự ngữ dụng học. Nhiệm vụ nghiên cứu bao gồm tổng quan tình hình nghiên cứu lý thuyết và ứng dụng về hành động ngôn ngữ và phép lịch sự.

3.1. Tổng Quan Lý Thuyết Về Hành Động Ngôn Ngữ Và Lịch Sự

Luận án sẽ tổng quan nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước về hành động ngôn ngữ, đồng thời trình bày lý thuyết hành động ngôn ngữ và lý thuyết lịch sự. Lý thuyết này sẽ được lấy làm căn cứ để triển khai đề tài. Việc nghiên cứu lý thuyết là nền tảng quan trọng để hiểu rõ bản chất và cách thức vận hành của hành động ngôn ngữ trong giao tiếp.

3.2. Thu Thập Và Xử Lý Ngữ Liệu Về Hành Động Ngôn Ngữ Trách

Xác định và xây dựng kế hoạch thu thập nguồn ngữ liệu nghiên cứu từ các nhóm đối tượng sử dụng hành động trách là GV, nhân vật trong các sáng tác văn học và phim truyền hình Việt Nam, và người dùng là các tình huống giao tiếp trong sinh hoạt hàng ngày. Xử lý ngữ liệu nghiên cứu, thống kê, phân loại và phân tích để tìm ra đặc trưng của hành động ngôn ngữ trách tiếng Việt.

IV. Phương Pháp Nghiên Cứu Hành Động Ngôn Ngữ Trách 55 Ký Tự

Luận án sử dụng phương pháp phân tích diễn ngôn để xây dựng khái niệm về hành động trách, chỉ ra các phương tiện ngôn ngữ dùng để thực hiện hành động trách. Phương pháp miêu tả được vận dụng khi phân tích ngữ cảnh để nhận biết về các tình huống có chứa hành động trách, để nhận diện hành động trách gián tiếp. Ngoài ra, còn sử dụng thủ pháp thống kê, phân loại và so sánh.

4.1. Phân Tích Diễn Ngôn Về Hành Động Ngôn Ngữ Trách

Phương pháp phân tích diễn ngôn được sử dụng xuyên suốt luận án. Mục đích là xây dựng khái niệm về hành động trách, chỉ ra các phương tiện ngôn ngữ dùng để thực hiện hành động trách. Đồng thời, xác định các thành tố cấu thành biểu thức ngôn hành của hành động trách, hành động trách trực tiếp và gián tiếp, phát ngôn trách.

4.2. Thống Kê Phân Loại Ngữ Liệu Hành Động Ngôn Ngữ

Thủ pháp thống kê, phân loại được sử dụng để phân chia các dạng trách trực tiếp, trách gián tiếp. Xác định các hành động ngôn ngữ được dùng để thực hiện dạng trách gián tiếp. Xác định hành động trách được dùng nhằm tới những đích khác. Nhận diện các hành động ngôn ngữ của GV từ các tình huống HS mắc lỗi.

4.3. So Sánh Điểm Tương Đồng Giữa Hành Động Trách

Luận án sử dụng thủ pháp so sánh để chỉ ra những điểm tương đồng giữa hành động trách với các hành động cùng nhóm biểu cảm chê, mắng, phê bình. Chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa hành động trách của GV so với hành động trách của nhóm NV và nhóm NDHH. Đồng thời đánh giá những biểu hiện lịch sự và bất lịch sự của các hành động ngôn ngữ mà GV sử dụng để thực hiện lời trách gián tiếp.

V. Đóng Góp Và Điểm Mới Trong Nghiên Cứu Trách 54 Ký Tự

Về mặt lý luận, nghiên cứu cho phép đưa ra cơ sở khoa học về khái niệm, điều kiện sử dụng, các loại biểu thức của hành động trách. Về mặt thực tiễn, kết quả đóng góp cho hoạt động giao tiếp, đặc biệt là của GV trong tình huống HS mắc lỗi. Nghiên cứu về cấu trúc, đặc trưng, kiểu loại của hành động trách và nguồn ngữ liệu thu thập từ lời nói của GV có thể trở thành nguồn tư liệu nghiên cứu và học tập về ngữ dụng học nói chung.

5.1. Cơ Sở Khoa Học Về Khái Niệm Hành Động Ngôn Ngữ

Nghiên cứu cho phép đưa ra cơ sở khoa học về khái niệm, điều kiện sử dụng, các loại biểu thức của hành động trách. Bên cạnh đó, xây dựng một số mô hình, biểu hiện đặc trưng của hành động trách. Xác định một số thành phần có giá trị điều biến tính lịch sự trong phát ngôn trách trong tiếng Việt.

5.2. Ứng Dụng Thực Tiễn Trong Giao Tiếp Sư Phạm

Các kết quả nghiên cứu mong muốn đóng góp cho hoạt động giao tiếp, đặc biệt là giao tiếp của GV trong những tình huống HS mắc lỗi. Góp phần vào thực hành giao tiếp có văn hóa trong môi trường sư phạm. Những nghiên cứu về cấu trúc, đặc trưng, kiểu loại của hành động trách có thể trở thành nguồn tư liệu nghiên cứu và học tập.

VI. Phát Triển Ứng Dụng Hành Động Ngôn Ngữ Trách 52 Ký Tự

Nghiên cứu xác định hành động trách được thu thập từ nhiều nguồn ngữ liệu khác nhau trong những ngữ cảnh khác nhau để nghiên cứu. Từ những kết quả đạt được, luận án xây dựng các mô hình sử dụng hành động trách một cách hiệu quả trong giao tiếp, đặc biệt là ở khía cạnh lịch sự. Quan trọng nhất là phải hướng đến mục đích là giảm mức độ đe dọa thể diện và tác động tích cực đến người nghe.

6.1. Xây Dựng Mô Hình Giao Tiếp Sư Phạm Hiệu Quả

Nghiên cứu xây dựng các mô hình sử dụng hành động trách một cách hiệu quả trong giao tiếp, đặc biệt là trong môi trường sư phạm. Mô hình cần đảm bảo tính lịch sự, tôn trọng và xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa GV và HS. Áp dụng các phương pháp sư phạm hiện đại vào quá trình giao tiếp.

6.2. Liên Tục Cải Thiện Ứng Xử Trong Môi Trường Giáo Dục

Hành động trách được sử dụng trong giao tiếp của GV với HS khi các em mắc lỗi. Nghiên cứu nhằm đánh giá những điểm mạnh, điểm yếu của hành động trách khi hành chức. Đánh giá những lợi ích và tổn thất của người sử dụng (GV) và nhận định những ảnh hưởng đối với người tiếp nhận hành động (HS). Trên cơ sở đó, đưa ra những kiến giải, đề xuất sử dụng hành động đạt hiệu quả, giảm mức độ đe dọa thể diện.

16/05/2025
Hành động ngôn ngữ trách trong tiếng việt và việc sử dụng của giáo viên ở môi trường sư phạm

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu và cơ sở lí luận Chƣơng này tập trung tổng quan nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nƣớc về hành động ngôn ngữ, đồng thời trình bày lí thuyết hành động ngôn ngữ và lí thuyết lịch sự mà luận án lấy làm căn cứ để triển khai đề tài. 8 Chương 2: Hành động ngôn ngữ trách trong tiếng Việt Chƣơng này tập trung vào: Xây dựng khái niệm về hành động trách; Phân biệt hành động trách với các hành động chê, mắng, phê bình; Xác định các điều kiện thực hiện hành động; Xác lập các loại biểu thức ngôn hành (BTNH) trách; Xây dựng bộ tiêu chí nhận diện hành động trách; Tìm hiểu về hành động trách gián tiếp; Tìm hiểu về phát ngôn trách với các thành phần liên quan, trên cơ sở đó xác định biểu hiện lịch sự và bất lịch sự trong cách thức sử dụng hành động. Chương 3: Hành động trách của giáo viên ở môi trường sư phạm Chƣơng này tập trung vào các nội dung: Tình trạng mắc lỗi ở HS; Các hành động ngôn ngữ của GV trong những tình huống HS mắc lỗi; So sánh hành động trách của GV với hành động trách của nhóm NV và NDHH; Hành động trách trực tiếp và gián tiếp của GV; Vấn đề lịch sự trong phát ngôn trách của GV; Đƣa ra một số giải pháp và đề xuất liên quan tới đề tài nghiên cứu. 9 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.

TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Những nghiên cứu về lí thuyết hành động ngôn ngữ Nghiên cứu có tính chất đặt nền móng cho lí thuyết về dụng học nói chung và hành động ngôn ngữ (speech act(1)) nói riêng bắt đầu từ Austin J. với các bài giảng sau này đƣợc tập hợp in trong [1]. Ông đã chỉ ra thực tế khi chúng ta nói năng cũng chính là chúng ta hành động.

Hành động trong nói năng mà Austin đề cập đƣợc thực hiện thông qua các hành động ngôn ngữ. Trong các bài giảng nói trên của mình Austin đã đề cập và phân biệt một số khái niệm cốt lõi liên quan tới hành động ngôn ngữ nhƣ: Phát ngôn ngôn hành (performative utterance) trong sự phân biệt với phát ngôn khảo nghiệm (constative utterance); Biểu thức ngôn hành (BTNH - performative expression), phân biệt BTNH nguyên cấp (primary performative) với BTNH tƣờng minh (explicit performative); Hành động ngôn ngữ (còn gọi hành động ngôn từ - speech act) và phân biệt với hành động khảo nghiệm (constatives); Động từ ngôn hành (còn gọi động từ ngữ vi - performative verb),… Đối với các hành động ngôn ngữ Austin đã chia thành ba loại: hành động tạo lời (locutionary act), hành động mƣợn lời (perlocutionary act) và hành động ở lời (còn gọi hành động ngôn trung/hành động tại lời/hành động dĩ ngôn - illocutionary act). Trong đó các hành động ở lời là trung tâm nghiên cứu của ngữ dụng học, đƣợc các nhà nghiên cứu sau này quan tâm tìm hiểu sâu. Mỗi hành động ở lời đƣợc thực hiện bằng một phát ngôn ngôn hành (performative utterance) có chứa BTNH và có lõi là một động từ ngôn hành (performative (1) Thuật ngữ “speech act” và các thuật ngữ liên quan đến lý thuyết hành độngngôn ngữ nhƣ: locutionary act, perlocutionary act, illocutionary act, performative verb,… khi dịch sang tiếng Việt, theo quan sát của chúng tôi, có những cách dụng ngôn khác nhau của các nhà nghiên cứu Nguyễn Đức Dân (1998), Đỗ Hữu Châu (2001), Nguyễn Văn Hiệp (2010), Đỗ Hữu Châu, Đỗ Việt Hùng (2012), Nguyễn Thiện Giáp (2000, 2020).

Trong luận án này, ngoại trừ những trích dẫn nguyên bản ý kiến của các tác giả, chúng tôi sử dụng thuật ngữ hành động ngôn ngữ và các thuật ngữ khác liên quan nhƣ: hành động tạo lời, hành động mượn lời, hành động ở lời, động từ ngôn hành, biểu thức ngôn hành,… 10 verb). Austin cũng đi vào xem xét các điều kiện sử dụng các hành động ở lời và cho đó là các điều kiện may mắn (felicity conditions) để một hành động đƣợc thực hiện. Bên cạnh đó, Austin cũng đã tiến hành phân loại các hành động ngôn ngữ thành năm nhóm: Phán xử (verdictives), hành xử (exercitives), cam kết (commissives), ứng xử (behabitives) và trình bày (expositives). Trên cơ sở những vấn đề mà Austin đƣa ra, nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ học đã đi vào tìm hiểu sâu hơn về hành động ngôn ngữ, trong số đó một số tác giả đã có những nghiên cứu mang tính mở rộng, hoặc bổ sung làm rõ hơn những luận điểm của Austin.

Bên cạnh đó Searle [4] còn đƣa ra khái niệm hành động ngôn ngữ gián tiếp (indirect speech act). Nghiên cứu về các tiêu chí phân loại của Searle nhận đƣợc cả hai luồng ý kiến tán thành và không tán thành, tuy nhiên cho đến tận bây giờ đó vẫn đƣợc xem là nền tảng phân loại uy tín mà các nhà nghiên cứu sau này lấy làm cơ sở cho các nghiên cứu về hành động ngôn ngữ. [5] xem xét các động từ nói năng (speech act verbs) tiếng Anh dƣới góc độ ngữ nghĩa. Bà nhận thấy các động từ nói năng trong tiếng Anh (trong các công trình nghiên cứu (chủ yếu là các từ điển) không đƣợc giải nghĩa một cách thấu đáo, không đáp ứng đƣợc thực tiễn sử dụng.

Trên cơ sở đó bà đã tập hợp các động từ nói năng trong tiếng Anh và chia thành các nhóm (trên cơ sở những nét tƣơng đồng cơ bản giữa các nhóm) để giải nghĩa. Công trình này của Wierzbicka là một gợi ý quan trọng trong việc phân tích và tìm ra ngữ nghĩa – ngữ dụng của những động từ nói năng nói chung. Yule trong công trình [6] cũng đã tổng hợp và trình bày một cách khái quát nhất những nội dung cơ bản có liên quan mật thiết với nhau của ngữ dụng học, trong đó có nội dung về hành động ngôn ngữ. 11 Ở Việt Nam, những nghiên cứu về ngữ dụng học xuất hiện rải rác từ những năm đầu của thập niên 90 của thế kỉ XX.

Tuy nhiên, phải đến những năm cuối thập niên 90 ngữ dụng học mới đƣợc giới thiệu và phổ biến thành kiến thức học thuật một cách bài bản và hệ thống. Lí thuyết về ngữ dụng học và hành động ngôn ngữ đƣợc Nguyễn Đức Dân giới thiệu trong [7] là một trong số ít những công trình về ngữ dụng học ở thời kì đầu. Trong công trình này tác giả đã giới thiệu một số nội dung cơ bản của ngữ dụng học nhƣ: Đại cƣơng Ngữ dụng học, hành động ngôn ngữ, hội thoại và lí thuyết lập luận. Đỗ Hữu Châu trong [8] đã nghiên cứu dụng học Việt ngữ một cách hệ thống và bài bản.

Trong công trình này Đỗ Hữu Châu đã giới thiệu, luận giải và chỉ rõ những vấn đề cơ bản của lí thuyết dụng học thế giới, đồng thời làm sáng tỏ những vấn đề tƣơng ứng trong dụng học tiếng Việt. Công trình này gồm các nội dung cơ bản: Khái quát về ngữ dụng học, chiếu vật và chỉ xuất, hành động ngôn ngữ, lí thuyết lịch sự, lí thuyết lập luận, lí thuyết hội thoại, ý nghĩa hàm ẩn và ý nghĩa tƣờng minh. Công trình của Đỗ Hữu Châu đƣợc xem là tài liệu nghiên cứu về lí thuyết dụng học tiêu biểu của Việt Nam, đƣợc lấy làm tài liệu giảng dạy chính thức ở nhiều trƣờng đại học, nhiều chuyên ngành xã hội học, đồng thời cũng là tài liệu làm cơ sở nghiên cứu khoa học của nhiều thế hệ sinh viên, học viên, nghiên cứu sinh tại Việt Nam. Nguyễn Thiện Giáp với [9] cũng là một trong những công trình nghiên cứu tiêu biểu về ngữ dụng ở Việt Nam.

Trong công trình này, ông đã đề cập tới các nội dung của lí thuyết dụng học nhƣ: Ngữ cảnh và ngữ nghĩa, lí thuyết hành động ngôn từ, lí thuyết hội thoại, lịch sự và giao tiếp, tiền đề và kéo theo, nguyên tắc hợp tác và hàm ý hội thoại, cấu trúc thông tin, diễn ngôn và phân tích diễn ngôn. Nguyễn Thiện Giáp trong [10] đã đúc kết lại toàn bộ những lí thuyết ngôn ngữ học và các vấn đề liên quan tới ngôn ngữ học. Đặc biệt ông dành số trang nhiều nhất trong cuốn sách (hơn 300 trang) để viết về ngữ dụng học. Cụ thể hơn, căn cứ từ nghiên cứu của Austin [1] và Searle [2] công trình này đã 12 đúc kết lại lí thuyết hành động ngôn ngữ một cách ngắn ngọn, cô đọng.

Các nội dung của lí thuyết hành động ngôn ngữ nhƣ: phân loại các hành động ngôn từ, phát ngôn ngôn hành, BTNH, các phƣơng tiện chỉ ra lực dĩ ngôn, các động từ ngôn hành, hành động ngôn từ trực tiếp và hành động ngôn từ gián tiếp, cách nhận diện hành động ngôn từ gián tiếp, quan hệ giữa hình thức câu với hành động ngôn từ,… đều đƣợc phân tích tinh gọn, chỉ ra một cách tƣờng minh trên cơ sở tinh lọc và xâu chuỗi linh hoạt giữa các kiến thức ngữ pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng. Cùng với các nhà nghiên cứu nói trên rất nhiều nhà nghiên cứu khác: Hoàng Phê, Cao Xuân Hạo, Lê Đông, Nguyễn Văn Hiệp, Đỗ Việt Hùng, Bùi Minh Toán, Nguyễn Văn Khang, Vũ Thị Thanh Hƣơng, Đỗ Thị Kim Liên,… đều có những nghiên cứu đóng góp cho ngữ dụng học nói chung và lí thuyết hành động ngôn ngữ của tiếng Việt nói riêng. Điều đáng trân trọng là những nghiên cứu về ngữ dụng học nói chung và lí thuyết hành động ngôn ngữ nói riêng của các tác giả trong nƣớc đã tiếp biến những “núi” kiến thức khổng lồ của thế giới để cô đọng lại cho phù hợp với tri nhận của ngƣời Việt và tiếng Việt. Nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nƣớc đã tạo ra một bức tranh về lí thuyết hành động ngôn ngữ đa dạng của các nƣớc khác nhau trên thế giới.

Từ bức tranh ấy, ngƣời ta có thể thấy đƣợc những mảng nào của lí thuyết hành động ngôn ngữ ngày càng đƣợc khắc sâu trở nên chắc chắn và mảng nào cần đƣợc nghiên cứu làm sáng tỏ hơn để trở thành một lí thuyết đƣợc ứng dụng rộng rãi trong nhiều ngành khoa học khác nhau: văn học, tâm lí học, giáo dục học, xã hội học, công nghệ thông tin,.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ