Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HÀNG HÓA GIẢ MẠO VỀ SỞ HỮU TRÍ TUỆ 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ VÀ HÀNH VI XÂM PHẠM QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ 1. Khái quát chung về quyền sở hữu trí tuệ Trên thế giới, đặc biệt là ở những nước có nền kinh tế phát triển như Mỹ, các nước trong Khối cộng đồng chung Châu Âu, Úc, Nhật Bản, Hàn Quốc… thuật ngữ SHTT hoặc tài sản SHTT đã trở nên quen thuộc với nhiều người dân và các doanh nghiệp vì ở các quốc gia này SHTT là lĩnh vực rất được mọi người quan tâm và có lịch sử phát triển lâu đời. Việt Nam là một quốc gia có nền kinh tế đang phát triển nên SHTT vẫn còn là một trong những lĩnh vực còn khá mới mẻ, chưa thật sự được nhiều người biết đến một cách sâu sắc về loại tài sản đặc thù này.
Để có thể hiểu được một cách cơ bản nhất về quyền SHTT, các nội dung cơ bản sau đây cần thiết được tìm hiểu. Khái niệm quyền sở hữu trí tuệ Có lẽ đối với những người không trực tiếp làm việc về lĩnh vực SHTT hoặc chưa có thời gian tìm hiểu nhiều về pháp Luật SHTT, họ thường có những câu hỏi băn khoăn rằng tài sản SHTT là gì? hoặc tài sản này được pháp luật quy định và bảo hộ như thế nào?… Để diễn tả một cách dễ hiểu về loại tài sản là quyền SHTT, chúng ta có thể nhìn nhận về loại tài sản này từ thực tiễn cuộc sống như sau: hàng ngày, con người có thể sáng tạo rất nhiều sản phẩm mang tính tạo nhưng không phải tất cả các sản phẩm có chứa các ý tưởng sáng tạo đó đều được pháp Luật SHTT bảo hộ là tài sản SHTT. Chỉ có những sản phẩm trí tuệ được pháp Luật SHTT thừa nhận và bảo hộ thì chúng mới được gọi là tài sản SHTT. Ví dụ, tại giải vô địch bóng đá quốc gia Đông Nam Á (AFF Suzuki cup 2008), Ông Calisto, huấn luyện viên trưởng đội tuyển bóng đá Việt Nam, đã nghiên cứu để tuyển chọn được những cầu thủ 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com bóng đá giỏi như thủ môn Dương Hồng Sơn, trung vệ Như Thành, tiền đạo Công Vinh… rồi sau đó sắp xếp họ thành những đội hình chiến thuật khác nhau để đá thắng đội Singapore ở vòng bán kết, thắng đội Thái Lan ở trận chung kết để lên ngôi vô địch, là một sản phẩm trí tuệ của vị huấn luyện viên người Bồ Đào Nha (thể hiện ở việc sắp xếp đội hình chiến thuật thi đấu…).
Tuy nhiên, để sản phẩm mang tính trí tuệ nói trên được pháp Luật SHTT của Việt Nam bảo hộ là một tài sản SHTT, thì Ông Calisto cần phải thể hiện các ý tưởng sáng tạo nói trên của mình dưới một hình thức nhất định ví dụ như viết các ý tưởng sáng tạo này của mình thành một cuốn sách về bóng đá… Theo đó, tác giả có thể đưa ra khái niệm về quyền SHTT dưới góc độ pháp lý như sau: quyền SHTT là quyền đối với những tài sản trí tuệ được con người sáng tạo ra từ hoạt động tư duy, hoạt động sáng tạo, đầu tư của mình và thành quả của hoạt động sáng tạo, đầu tư đó được pháp luật thừa nhận và bảo hộ. Từ khái niệm về tài sản SHTT như trên, có thể hiểu đối tượng của loại sở hữu này là các tài sản phi vật chất nhưng có giá trị kinh tế, tinh thần to lớn góp phần quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển nền văn minh, khoa học, công nghệ của nhân loại bao gồm các tác phẩm văn học, nghệ thuật, các công trình khoa học kỹ thuật ứng dụng, các tên gọi, hình ảnh được sử dụng trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh thương mại. Phân loại quyền sở hữu trí tuệ Có thể ở hệ thống pháp luật quốc tế hoặc hệ thống pháp luật của từng quốc gia có những quy định không hoàn toàn giống nhau về các đối tượng quyền SHTT được bảo hộ hoặc thậm chí các lĩnh vực quyền SHTT. Cụ thể, theo quy định tại Công ước thành lập WIPO tại Stockholm ngày 14/07/1967 có đã đưa ra hệ thống các đối tượng thuộc phạm trù SHTT được chấp nhận trên toàn thế giới như sau: "intellectual property" shall include the rights relating to: literary, artistic and scientific works, performances of performing artists, phonograms, and broadcasts, inventions in all fields of human 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com endeavor, scientific discoveries, industrial designs, trademarks, service marks, and commercial names and designations, protection against unfair competition and all other rights resulting from intellectual activity in the industrial, scientific, literary or artistic fields [49, Article 2].
Tác giả tạm dịch như sau: Sở hữu trí tuệ bao gồm các quyền gắn liền với các đối tượng: tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học; cuộc biểu diễn của nghệ sĩ biểu diễn, bản ghi âm và cuộc phát sóng; sáng chế thuộc mọi lĩnh vực nỗ lực của con người; phát minh khoa học; kiểu dáng công nghiệp; nhãn hiệu, tên và chỉ dẫn thương mại; bảo hộ chống cạnh tranh không lành mạnh; tất cả các quyền khác là kết quả của hoạt động trí tuệ trong lĩnh vực công nghiệp, khoa học, văn học và nghệ thuật [49, Điều 2]. Như vậy, theo quy định của Công ước Stockholm, thì quyền SHTT bao gồm hai lĩnh vực quyền mang tính truyền thống đó là: quyền tác giả, quyền liên quan; và quyền sở hữu công nghiệp (SHCN). Trong khi đó, theo quy định của Luật SHTT của Việt Nam, quyền SHTT là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan; quyền SHCN; và quyền đối với giống cây trồng. - Quyền tác giả và quyền liên quan: Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu.
Quyền liên quan đến quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa. Các tài sản quyền SHTT ở lĩnh vực quyền tác giả và quyền liên quan luôn được pháp luật bảo hộ quyền nhân thân và quyền tài sản. Chủ sở hữu quyền tác giả và quyền liên quan được độc quyền sử dụng và khai thác tác phẩm của mình. Ngoại trừ những trường hợp được pháp luật cho phép sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao thì mọi hành vi sao chép, trích dịch, công bố, phổ biến, … nhằm mục đích kinh doanh mà không có sự đồng ý của chủ sở hữu quyền tác giả và quyền liên quan đều bị coi là xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan đến tác giả.
17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Quyền SHCN: Quyền SHCN bao gồm quyền đối với sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp (KDCN), nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại, bí mật kinh doanh, quyền chống hành vi cạnh tranh không lành mạnh và các quyền SHCN khác do pháp luật quy định. Quyền SHCN bảo hộ quyền sử dụng độc quyền vì mục đích kinh tế và quyền định đoạt của các chủ sở hữu các đối tượng SHCN. Luật về SHCN bảo hộ nội dung ý tưởng sáng tạo và uy tín kinh doanh. SHCN không phải là một loại sở hữu có liên quan đến tài sản hữu hình dùng trong công nghiệp mà là sở hữu đối với tài sản vô hình.
Đó là sáng chế, giải pháp hữu ích, v. Kể cả những đối tượng có thể tưởng là tài sản hữu hình như KDCN hay nhãn hiệu hàng hóa cũng không phải là tài sản hữu hình. Cái mà pháp luật hướng tới bảo vệ trong quan hệ pháp luật dân sự về SHCN không phải là kiểu dáng một chiếc xe hay một bộ quần áo, hay một dấu hiệu gắn trên hàng hóa, mà là những đối tượng vô hình đứng đằng sau kiểu dáng hay nhãn hiệu, là thành quả lao động sáng tạo hay uy tín kinh doanh của chủ sở hữu đối tượng đó. - Quyền đối với giống cây trồng: Giống cây trồng là quần thể cây trồng thuộc cùng một cấp phân loại thực vật thấp nhất, đồng nhất về hình thái, ổn định qua các chu kỳ nhân giống, có thể nhận biết được bằng sự biểu hiện các tính trạng do kiểu gen hoặc sự phối hợp của các kiểu gen quy định và phân biệt được với bất kỳ quần thể cây trồng nào khác bằng sự biểu hiện của ít nhất một tính trạng có khả năng di truyền được.
Quyền đối với giống cây trồng là quyền của tổ chức, cá nhân đối với giống cây trồng mới do mình chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển hoặc được hưởng quyền sở hữu. Đối tượng quyền đối với giống cây trồng là giống cây trồng và vật liệu nhân giống. Đối tượng được pháp luật hướng tới bảo vệ đối với giống cây trồng chính là tính mới, tính ổn định, đồng nhất và khả năng phân biệt với các giống cây trồng khác. Quyền đối với giống cây trồng được xác lập trên cơ sở quyết định cấp Bằng bảo hộ giống cây trồng của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo thủ tục đăng ký quy định tại Luật SHTT.
18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Đặc điểm quyền sở hữu trí tuệ Theo quy định của pháp luật, quyền SHTT là một loại quyền tài sản. Tài sản là quyền SHTT được hình thành từ hoạt động sáng tạo của con người nên quyền SHTT có những đặc điểm riêng biệt như sau: - Sở hữu trí tuệ mang tính chất vô hình: Thông thường khi nói đến tài sản, mọi người thường nghĩ đến những tài sản hữu hình có thể nhìn thấy được bằng thị giác. Tuy nhiên, quyền SHTT là loại tài sản vô hình, phi vật chất không thể nhìn thấy bằng mắt thường nên chủ sở hữu của loại tài sản này sẽ giữ quyền, không nắm giữ vật như những tài sản hữu hình khác.
Nội dung sở hữu của loại tài sản này cũng có điểm đặc thù, cụ thể đối với sở hữu thông thường, chủ sở hữu có đủ ba quyền bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt. Tuy nhiên, đối với quyền SHTT thì pháp luật không quy định gì về quyền chiếm hữu. Điều này là xuất phát từ đặc tính vô hình của các đối tượng SHTT. Chúng ta không thể nắm bắt, chiếm hữu được các kiến thức về một giải pháp kỹ thuật hay một KDCN.
Chỉ có một cách duy nhất để chiếm hữu chúng là giữ bí mật kiến thức đó. Một khi kiến thức được công bố, phổ biến thì bất cứ ai cũng có khả năng sử dụng và bắt chước theo.