CHƯƠNG 1: CO SỞ LÝ LUẬN VÈ RỦI RO HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm rủi ro Hiện nay tồn tại nhiều định nghĩa khác nhau về rủi ro tùy thuộc vào từng trường phái, tác giả mà không có mội khái niệm cụ thể thống nhất. Tuy nhiên, nhìn chung, rủi ro được định nghĩa theo hai trường phái lớn như sau: Trường phái thứ nhất, tạm gọi là trường phái truyền thống, cho rằng rủi ro là những tổn thất, điều không may mắn xảy ra tạo tác động xấu tới bản chất hay làm suy giảm lợi ích đem lại cho một tổ chức, ngăn cản việc thực hiện được mục tiêu hoặc kế hoạch tài chính đề ra.
Đặc điểm chủ yểu của khái niệm rủi ro này là sự không mong muốn, tiêu cực, gây thiệt hại, mất mát. Trong khi đó, trường phái thứ hai, hiện đại hơn, cho rằng tất cả những bất trắc, sự kiện không lường trước được có thể xảy ra mà đo lường được đều coi là rủi ro, cho dù nó mang tính tích cực hay tiêu cực. Có thể nói, khái niệm này bao gồm khái niệm rủi ro của trường phái thứ nhất, đồng thời mở rộng phạm vi sang cả những cơ hội, lợi ích có thể mang lại bởi một điều xảy đến không lường trước. Điều này đồng nghĩa, các biện pháp phòng ngừa, hạn chế rủi ro tiêu cực có thể được nshiên cứu và áp dụng, để nhận được nhiều hơn cơ hội mang lại những kết quả tốt đẹp hơn trong tương lai.
(Lý Bả Toàn, 2018) Dù được định nghĩa thế nào, rủi ro luôn có bản chất là sự không chắc chăn, và thường được xác định bởi ba yếu tố: xác suất xảy ra, khả năng ảnh hưởng đến đối tượng và mức độ tác động. Phân loại và khái niệm các dạng rủi ro Các dạng rủi ro rất đa dạng, trong đó hoạt động kinh doanh nói chung có thể liệt kê tới 20 dạng rủi ro khác nhau, bao gồm các dạng rủi ro thường được nhắc đến nhiều và chủ trọng trong hầu hết lĩnh vực như rủi ro cạnh tranh, rủi ro thị trường, RRHĐ, rủi ro pháp lý, rủi ro chiến lược, rủi ro danh tiếng. tới một số dạng rủi ro 10 mans tính chất đặc thù hơn như rủi ro cải tiến, rủi ro mùa vụ, rủi ro nguồn lực đầu vào, rủi ro dự án. Mọi hoạt động kinh doanh của ngân hàng đều chứa đựng các rủi ro.
Trong đó, rủi ro có thể gây ra các thiệt hại về tài sản, giảm lợi ích kinh doanh hoặc làm phát sinh thêm các chi phí để khắc phục một hậu quả gây ra hoặc để hoàn tất công việc nào đó. Các dạng rủi ro chính trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng được quan tâm là: - Rủi ro tín dụng: là rủi ro thất thoát tài sản phát sinh khi khách hàng vay hoặc bên có nghĩa vụ khác không thực hiện thanh toán các nghĩa vụ nợ khi đến hạn, bất kế là nợ gốc hay lãi, bao gồm rủi ro do đối tác (rủi ro vỡ nợ của người đi vay hoặc rủi ro tập trung sây ra bởi khách hàng và người có liên quan) và rủi ro mang tính quốc gia (liên quan đến sự thay đổi chính sách, yểu tố chính trị, kinh tế vĩ mô). - RRHĐ: rủi ro gây ra do những sai sót trong quá trình vận hành các hoạt động kinh doanh của ngân hàng, bao gồm: rủi ro do sự can thiệp hoặc sai phạm của con người, rủi ro trong hệ thống công nghệ thông tin (CNTT) hoặc hệ thống vận hành, rủi ro quy trình nội bộ, rủi ro do các nhân tố khách quan khác. Ở đây có bao gồm cả rủi ro pháp lý là rủi ro liên quan đển các quy định của pháp luật, thường là bởi việc hiểu và áp dụng không chính xác các họp đồng, điều luật hay quy chế pháp lý khác, không rõ ràng trong các quan điểm pháp lý và trong các hoạt động liên quan pháp lý; cũng bao gồm các các rủi ro về mặt tài chính hoặc chể tài, pháp lý mà ngân hàng phải chịu khi không tuân theo luật pháp, không đáp ứng các quy định, quy tắc, tiêu chuẩn trong hoạt động ngân hàng.
- Rủi ro thị trường: là rủi ro tổn thất xảy ra đổi với các khoản mục nội và ngoại bảng cân đối kế toán bởi sự biến động giá cả thị trường, bao gồm: rủi ro lãi suất (liên quan sự thay đổi lãi suất), rủi ro trạng thái vốn (liên quan sự thay đổi giá chứng khoán), rủi ro hàng hóa (liên quan sự thay đổi giá cả hàng hóa), rủi ro tỉ giá (liên quan sự thay đổi tỉ giá ngoại tệ). 11 - Rủi ro thanh khoản: rủi ro về khả năng đảm bảo tính thanh khoản trong hoạt động, dần đến tổn thất về chi phí phát sinh để bù đắp thanh khoản hoặc ảnh hưởng đến uy tín, giá chứng khoán, xếp hạng ngân hàng trên thị trường tiền tệ. - Rủi ro danh tiếng/uy tín: rủi ro phát sinh những thông tin, sự kiện gây ảnh hưởng đến hình ảnh, uy tín của ngân hàng qua đó tác động đến sự trung thành của khách hàng hoặc tác động đến phản ứng của các bên liên quan gây khó khăn cho hoạt động chung của ngân hàng. - Rủi ro mang tính hệ thống: rủi ro do có sự kết nối phức tạp trong hệ thống ngân hàng mà chịu ảnh hưởng chung từ biển động của hệ thống tài chính - ngân hàng khi một nhân tố trong đó xảy ra biến cố hoặc thất bại.
- Rủi ro chiến lược kinh doanh: rủi ro liên quan đến chiển lược, định hướng kinh doanh cụ thể mà một ngân hàng theo đuổi trước bối cảnh thị trường. Đó có thể là việc thực hiện không đúng các mục tiêu chiến lược, định ra các chiến lược sai lầm, hoặc không điều chỉnh chiến lược kịp thời khi môi trường kinh doanh thay đổi. - Moral Hazard: rủi ro đổi với những người nộp thuế của quốc gia nơi ngân hàng hoạt động. Đây là dạng rủi ro đặc biệt trong lĩnh vực kinh doanh ngân hàng, xảy ra khi ngân hàng gặp rủi ro quá lớn dẫn đến việc phải được cứu trợ, và người nộp thuế là người sau cùng góp phần tạo nên nguồn tài chính cứu trợ đó.
Khái niệm rủi ro hoạt động Có thê nói RRHĐ là một khái niệm rất rộng, bởi rủi ro này xảy đến trong mọi khía cạnh của quá trình làm việc, hoạt động, kinh doanh thường ngày. Cũng bởi vậy nó có thể dễ dàng được hình dung thông qua các ví dụ cụ thể, nhưng lại không dễ để khái quát hóa thành một định nghĩa rõ ràng và dễ hiểu, do đó thường khó được quản lý và đánh giá đúng mực. Trước đây, RRHĐ thường chỉ được hình dung bằng phương pháp loại trừ, như một loại rủi ro “còn lại” ngoài những rủi ro chính trong kinh doanh của ngân hàng là rủi ro tín dụng và rủi ro thị trường, sau khi hai loại rủi ro này đã được định nghĩa chi tiết và xác định rõ ràng. Hiện nay, RRHĐ được định nghĩa như sau: “RRHĐ được xác định là rủi ro xảy ra tổn thất gây ra bởi sự vận hành nội bộ thiếu hoàn 12 thiện hay không hiệu quả, bởi con người và hệ thổne, hoặc bởi các sự kiện bên ngoài, Định nghĩa này bao gồm rủi ro pháp lý, nhưng không bao gồm rủi ro chiến lược và rủi ro danh tiếng”.
RRHĐ tồn tại trong mọi mặt hoạt động kinh doanh của ngân hàng, với phạm vì rẩt lớn và thời diêm phát sinh có thể là bất cứ lúc nào tại bất cứ bộ phận nào của ngân hàng. Có thể thấy rằng, khái niệm RRHĐ tập trung chủ yếu vào khía cạnh các nguyên nhân gây ra rủi ro. Bởi vậy, việc phân loại RRHĐ cũng căn cứ theo nguyên nhân mà có thể chia thành bốn nhóm chính, bao gồm: rủi ro quy trình, quy định, rủi ro con người, rủi ro hệ thống và rủi ro do sự kiện bên ngoài. Nguyên nhân của rủi ro hoạt động 1.
Do quy trình, quy định - Quy trình, quy định không được ban hành hoặc ban hành không rõ ràng, thiếu sót, không được cập nhật hoặc có lỗ hổng dẫn đến mâu thuẫn, chồng chéo, không được thực thi hoặc bị cố ý lợi dụng gây thiệt hại. Quy trình, quy định ban hành đã cũ, không cập nhật kịp những thay đổi chung theo các quy định mới của pháp luật hoặc chưa cập nhật, bổ sung thay đổi so với chính quy định chung khác của hệ thống hay so với sự thay đổi của hoạt động kinh doanh. Ví dụ: Ngân hàng thực hiện phát hành Trái phiếu và cho phép sử dụng cầm cố nhưng các văn bản hướng dẫn chưa ban hành kịp thời do hệ thống chưa từng triển khai sản phẩm này trước đó. Điều này khiến các chi nhánh bối rối khi thực hiện, phải trực tiếp hỏi lên các phòng ban khác nhau của Trụ sở chính do vướng mắc ở nhiều khâu trong quá trình thực hiện tín dụng.
Quy định cầm cố tài sản có tính thanh khoản cao của ngân hàng đã được ban hành cụ thể từ lâu nhưng chưa đề cập đến hướng xử lý đối với tài khoản tiết kiệm trực tuyến qua ngân hàng điện tử khi tài khoản tiết kiệm này không có giấy tờ chứng minh sở hữu vật lý như sổ thẻ tiết kiệm truyền thống. - Truyền thông, ban hành chi tiết đến các cấp chưa kịp thời, chưa được chú trọng, gây chậm trễ hoặc khó khăn trong áp dụng. Sản phẩm, chương trình, chính sách 13 được triển khai quá phức tạp, khó hiểu hoặc sử dụng những diễn giải dễ gây hiểu lầm, trong khi không đi kèm với việc truyền thông chi tiết, giải đáp thắc mắc, hướng dẫn cụ thể. Ví dụ: Một sổ văn bản “Khẩn” về việc dừng giải ngân, dừng áp dụng các chương trình, chính sách nếu không được phân phối kịp thời tới từng cấp đơn vị nhỏ nhất có thế gây ra các sự kiện vi phạm do chưa được thông tin đầy đủ.
Văn bản thay đổi về cấp thâm quyền của chi nhánh đã được ban hành và gửi về nhưng so sai sót của văn thư chưa thông tin đến toàn bộ chi nhánh khiển phát sinh trường họp khoản tín dụng thuộc cấp thẩm quyền cũ nhưng trở thành vượt cấp thẩm quyền mới và không thực hiện được, gây rủi ro vi phạm thẩm quyền cấp tín dụng cho chi nhánh, mất thời gian của ngân hàng và khách hàng trong tìm kiếm nguyên nhân và khắc phục sai sót.