đặt vấn đề được các nhân vật giao tiếp mặc nhiên thừa nhận, dựa vào chúng mà người nói tạo nên các nghĩa tường minh trong phát ngôn của mình”. ~ Anh ta di lấy thuốc cho vợ. Hiểu biết "Anh ta đã có vợ” được xem là không gì có thể bàn nữa, tiễn giả định: Anh ta đã có vợ.137] Nguyễn Như Ý (2003) cũng có nhận định về giả định: "Những hiểu biết được coi như đã bi được mặc nhiên thừa nhận mà dựa vào chúng người nói tạo nên câu hoặc lời thật sự có ý nghĩa, thực sự phù hợp với chân lý”. “Trong câu nói: *7àw dừng”, nói "dừng" tức là nói: không hoạt động di chuyển”, nhưng đồng thời cũng tức là thừa nhận “vừa mới hoạt động di chuyển”.
“Vừa mới hoạt động di chuyển” là điều coi như là một sự thật đã. biết rồi, một sự thật phải thừa nhận, vì có thừa nhận như vậy thì mới có thể nói "đừng" hay "không dừng”. Vì vậy *vừa mới đang hoạt động di chuyển” goi là tiền giả định.284] Theo đó, chúng tôi đồng ý với các cách hiểu của Đỗ Hữu Châu, Đỗ 'Việt Hùng. Cách lý giải của Nguyễn Như Ý cũng rất rõ rang, vì một khi tiền giả định xuất hiện, ta phải có một ý nghĩa biết trước sẵn, trên cơ sở hợp lý với nghĩa được suy ra, nêu không thì không thể trở thành tiền giả định.
Từ khi thực hiện phát ngôn, người nói định có những thông tỉn mà người nghe đã biết. Vì coi đó là những thông tin đã biết nên những thông tin như thế không. được nói ra, và đó chính là tiền giả định. (2) Ngoại dạy con phải biết tha thứ hết thảy mọi người, má à! (NDKT- CCD, tr.53) Nghĩa hàm ẩn: con không để bụng chuyện trước đây nữa.
“Tiền giả định: Trước đây, người nói bị ai đó xúc phạm. Phát ngôn (2) được xây dựng từ tiền giả định trước đó, chính là người nói bị ai đó xúc phạm. Qua cuộc thoại trên, ta thấy tiền giả định là một loại nghĩa ngầm ẩn, là điều mà người nói và người nghe ngầm hiểu, đã biết trước. Một số nhà nghiên cứu ngôn ngữ học dùng thuật ngữ hàm: ý để chỉ cả implicare (hàm ý = động từ) và implicafure (hàm ý - danh từ).
Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng thuật ngữ hàm ý với hai nghĩa: chỉ hành động tạo ra hàmý (tương đương với implicare trong tiếng Anh) và chỉ cái được hàm ý (tương đương với implicature trong tiếng Anh). Mặc dù, hàm ý là phạm trù phổ biến trong ngôn ngữ, đã nghiên cứu. nhiều nhưng để đi đến thống nhất một định nghĩa thì không đơn giản. đó, Paul Grice (1989) phân loại hàm ý thành hai loại: ighia tự nhiên và ý nghữa không tự nhiên.
Ý nghĩa không tự nhiện chính là “hàm ý” và nó được gọi đầy đủ hơn là “hàm ý hội thoại”. Ý nghĩa tự nhiên là thứý nghĩa được suy ra. một cách ngẫu nhiên, không dựa vào ý định của người nói, không cố gắng giả đoán chủ định của người nói. Từ đó, Grice định nghĩa hàm ý là những gì người nói muốn ngụ ý, gợi ý hay ngầm nói, khác với những gì mà người ấy nói ra qua.
Hoàng Phê (2003), hiểu hàm ý như sau: (1) Có chứa đựng một ý nào đó bên trong. (2) Ý được chứa đựng ở bên trong, không diễn đạt trực tiếp. Và đưa ra ~ Câu nói có nhiều hàm ý. ~ Cái nhìn đầy hàm ý.
403] Đỗ Hữu Châu (2007) gọi hàm ý là hàm ngôn, ông vi *Hàm ngôn là tắt cả những nội dung có thể suy ra từ một phát ngôn cụ thể nào đó cùng v‹ nghĩa tường minh (ý nghĩa câu chữ) cùng với tiền giả định của nó. ~ Vũ hội làm chúng ta quên rằng bây giờ đã 12 giờ đêm rồi. “Tùy vào hoàn cảnh giao tiếp, ý định của người nói, tư cách của người nói mà nghĩa hàm ngôn của câu nói này là: tán thôi. - Vũ hội thành công, chứng cở là mọi người đã quên cá mệt mỏi vì giờ: “I7, tr.
362] 20 Từ những quan điểm trên, chúng tôi hiểu hàm ý là những gì được suy ra từ những cái đã biết trong lời nói. Sự suy luận này được thực hiện dựa trên cơ sở quan hệ logic nhưng chủ yếu là dựa vào *lẽ thường”, như một cuộc giao tiếp sau đây: (3) “Lo chi ma, Bảo vẫn còn ở đó, mai mốt con rảnh con lay chong mà". Má tôi hỏi chừng nào rảnh. Con đâu biết má ơi.
(NĐKT -NN, tr58) “Tiền giả định: có một người tên Bao, Bảo là bạn trai của cô gái. Hàm ý: cô gái chưa muốn lấy chồng. Qua (3) ta thấy, hàm ý là nghĩa ngoài câu chữ, muốn suy ra hàm ý phải dựa vào thao tác suy ý, dựa vào ngữ cảnh, ngôn cảnh và các quy tắc điều khiển hành vi ngôn ngữ, lập luận. Vì thế, hàm ý được sử dụng hàng ngày với nhiều mục đích, có thể để tránh trách nhiệm, có thể là một lời đề nghị kín đáo, có thể là một lời nói thiếu thiện chí,.
Nói bằng hàm ý cũng làm cho lời của. người nói ra sinh động hơn, uyễn chuyển hơn, nội dung lời nói phong phú, ý' nhị và sâu sắc hơn. Về phía người nghe, các. n chứa đựng hàm ý vốn là những lời n kín đáo, tế nhị nên giúp họ nhận thức sâu sắc hơn, thắm thía.
hơn nhờ sự kích thích quá trình nhận thức, trí tuệ, tình cảm. Trong thực tế có. rất nhiều trường hợp ý thức ngầm hiểu có thể nhiều hơn những điều được nói ra, cái phần định nói nhiều hơn nhiều. Đó chính là hàm ý.
Đỗ Hữu Châu chia hàm ngôn (hàm ý) làm hai loại: hàm ngôn ngữ nghĩa và hàm ngôn ngữ dụng. Hàm ngôn ngữ nghĩa là hàm ngôn được suy ra từ nội dung ngữ nghĩa tường minh của phát ngôn. Hàm ngôn ngữ nghĩa là các luận cứ hoặc kết luận không được nói ra một cách tường minh mà để cho người nghe dựa vào quan hệ lập luận mà rút ra. Hàm ngôn ngữ dụng là những.
hàm ngôn do sự vi phạm các quy tắc ngữ dụng bao gồm quy tắc chiếu vật chỉ xuất, quy tắc lập luận, quy tắc cl hối các hành vi ngôn ngữ, quy tắc hội 2I thoại, trong đó quan trọng nhất là phương châm và các quy tắc cộng tác hội thoại của Grice mà có, Nguyễn Đức Dân (1998) cho rằng: "Hàm ngôn là khi chúng ta nói điều này nhưng muốn người nghe hiểu theo điều khác hoặc hiểu thêm một điều khác”. Bên cạnh đó, theo tác giả thuật ngữ hàm ngôn cốt để đối lập với hiển ngôn và để hiểu hàm ngôn cần phải hiểu tiền giả định, hiển ngôn và những khái niệm có liên quan (hàm ý, suy ý, ngụ ý, hiểu ngầm, ám chi,. Có thể hiểu quan niệm của Nguyễn Đức Dân về mỗi quan hệ giữa hiển ngôn. và hàm ý như bảng sau: Bảng 1.1 Sơ đồ quan hệ giữa các “Nghĩa đầy đủ của một phát ngôn” theo Nguyễn Đức Dân [14, tr.194] Ngit vin 9 xem “Ham ý (hàm ngôn) là phần thông báo tuy không diễn đạt trực tiếp bằng từ ngữ trong câu nhưng có thể suy ra từ những từ ngữ ấy".
tr75] “rong luận văn này, chúng tôi đùng thuật ngữ "hàm ý” giống như quan niệm của Nguyễn Đức Dân (1989) và trong Ngữ văn 9 (2013) đã thống nhất trong nhà trường, hiểu ý nghĩa hàm ẩn, hàm ngôn đều là hàm ý vì đều là loại ' nghĩa không được thể hiện rõ trên bề mặt phát ngôn mà phải suy ra từ nghĩa. tường minh và ngữ cảnh. Lý thuyết hội thoại Hội thoại là hình thức thường xuyên, căn bản, phổ biến nhất của ngôn ngữ và cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác. Hội thoại có những biểu hiện muôn hình muôn vẻ trong những hoàn cảnh khác nhau, phục vụ cho những ý đồ giao tiếp đa dạng của người nói muốn hướng tới người nghe.
Nếu việc giao tiếp có thể diễn ra một chiều hay hai chiều, có thể ở dạng nói hay dạng viết. Tuy nhiên, dạng nói là phổ biến và chủ yếu. Vì lúc đó luôn có sự hồi đáp qua lại giữa người nói - người nghe và cùng tác động lẫn nhau. Lúc đó vai trò của hai bên thay đổi: người nói sẽ trở thành người nghe và ngược lại, hình thức này gọi là hội thoại.
Cấu trúc hội thoại Hội thoại là môt tổ chức có tính cáp hệ. Các đơn vị tạo nên cầu trúc của. hội thoại là: cuộc thoại (cuộc tương tác); đoạn thoại; cặp thoại (cặp trao đáp); tham thoại; hành vi ngôn ngữ. Ba don vi: cuộc thoại, đoạn thoại, cặp thoại có ính chất lưỡng thoại, có nghĩa là hình thành do vận động trao đáp của các nhân vật hội thoại.
Hai đơn vị: tham thoại và hành vi ngôn ngữ là những đơn vị có tính chất đơn thoại do một người nói ra. Các đơn vị lưỡng thoại a. Cuộc thoại (cuộc tương tác) Nói tới hội thoại là nói đến “cước hoại”, có thể hiểu đó là một lần trao đổi, nói chuyện giữa những cá nhân, ít nhất là hai người trong một hoàn cảnh.Orecchino, "để có một và chỉ một cuộc thoại điều kiện cần và đủ là có một nhóm nhân vật thay đổi nhưng không đứt quãng, 23 trong một khoảng thời gian và không gian có thể thay đổi nhưng không đứt quãng”. (dẫn theo [7, tr.
Cuộc thoại có thể xoay quanh một để tài, một mục đích, một thái độ hay có thể có nhiều hơn một để tài, nhiều mục đích khác nhau. những người tham gia hội thoại mà có thể tồn tại cuộc hội thoại ngắn hay dài. 'Các cuộc hội thoại thường chỉ chứa một cặp câu như: chào - chào; hỏi ~ đáp; để nghị - đồng ý: ra lệnh nhận lệnh. Đoạn thoại Theo Đỗ Hữu Châu (2007) thì *Đoạn thoại là mảng diễn ngôn do một số cặp trao đáp liên kết chặt chế với nhau về ngữ nghĩa và ngữ dụng.
VỀ ngữ nghĩa, đó là sự liên kết chủ đề: Một chú đề duy nhất về ngữ dụng trong đó là tính duy nhất về đích”. 313] c Cặp thoại Cặp thoại là đơn vị lưỡng thoại. đơn vị tối thiểu nhỏ nhất của một cuộc hội thoại do các tham thoại tạo nên. Trong mỗi đoạn thoại có thể bao gồm.
nhiều cặp thoại, nhưng vai trò của mỗi cặp thoại là không giống nhau. Tuy nhiên, không nhất thiết toàn bộ lượt lời này và toàn bộ lượt lời kia mới thành cặp thoại. Và cũng không nhất thiết cặp thoại chỉ gồm một tham thoại dẫn. nhập và một tham thoại hồi đáp mà có thể là một tham thoại, hai tham thoại, ba tham thoại.
Các đơn vị đơn thoại ca. Tham thoại ‘Tham thoại là phần đóng góp của từng nhân vật hội thoại vào một cặp thoại nhất định.