phần mở đầu , kế t luâ ̣n và tài liệu tham khảo , luâ ̣n văn gồ m có 3 chƣơng. Chƣơng 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN Chƣơng 2: KHẢO SÁT NỘI DUNG GIẢNG DẠY NGỮ PHÁP TIẾNG VIỆT TRONG SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN TRUNG HỌC CƠ SỞ Chƣơng 3: MỘT SỐ BÀN LUẬN 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com NỘI DUNG CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 1. Bản ngữ và giáo dục bản ngữ 1. Bản ngữ và đặc trưng của bản ngữ a) Khái niệm bản ngữ Bản ngữ là tiếng mẹ đẻ (Native Language), ngƣời nói tiếng mẹ đẻ là người bản ngữ (Native Speaker).
Bản ngữ mang tính di truy ền xã hô ̣i ch ứ không mang tin ́ h di truy ền huyết thống.de Saussure đã nói: “Ngƣời bản ngữ luôn luôn đúng” vì ngôn ng ữ mẹ đẻ là cái thiết chế xã hội tự nguyện của họ. Những gì ngƣời bản ngữ nói ra bao hàm cả tƣ duy và văn hóa bản xứ, sẽ thành chuẩ n để so sánh với ngoại ngữ. Ngƣời bản ngữ sử dụng thành thạo chức năng ngôn ngữ bản ngữ. Tiếng mẹ đẻ là ngôn ngữ mà mỗi ngƣời bản ngữ dùng để phản ánh thế giới, giao tiếp và mang đậm dấu ấn văn hoá bản địa, khác với ngoại ngữ ở chỗ là dù ngoại ngữ có giỏi đến đâu cũng không thể thay thế đƣợc cho tƣ duy tiếng mẹ đẻ.
Chẳng hạn, phải là ngƣời Việt mới thấm đƣợc linh hồn các phát ngôn Việt, những câu ca dao, tục ngữ, ngôn ngữ truyện Kiều,. Cùng với tiếng mẹ đẻ, chúng ta còn có tƣ duy bản ngữ và văn hóa. Ngƣời bản ngữ là ngƣời sở hữu cả tƣ duy, ngôn ngữ và văn hóa bản xứ. Vì vậy, lời nói ra của ngƣời bản ngữ đại diện cho cả ba thứ đó.
Do đó, nhiệm vụ của ngƣời bản ngữ khi đi học ở nhà trƣờng là trau dồi ngữ năng - kỹ năng sử dụng ngôn ngữ của mình - đó là kỹ năng nói và viết - trên cơ sở đã có. b) Đặc trưng của bản ngữ Bản ngữ là cái ngôn ngữ con ngƣời sử dụng với độ bền nhất để giao tiếp, suy nghĩ và sáng tạo nghệ thuật. Nó gắn với môi trƣờng sống của ngôn ngữ từ ấu thơ và mang l ại cho con ngƣời khả năng thụ đắc vô tận mà 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ngoại ngữ không làm đƣợc. Mỗi một ngƣời có một cơ chế “bẩm sinh” để thụ đắc ngôn ngữ, nhƣng sự tiếp nhận ấy cũng phụ thuộc vào môi trƣờng giao tiếp, môi trƣờng xã hô ̣i.
Bản ngữ luôn biến đổi và đa dạng hoá, có thêm nhiều sản phẩm chất lƣợng ngày một cao hơn. Sau bản ngữ là những nền văn hoá, là thói quen giao tiếp đã đƣợc định hình theo những chuẩn mực văn hoá. Nhà ngôn ngữ học nổi tiếng Noam Chomsky (1928) đã nhận xét rằng, ngƣời bản ngữ sở hữu ngôn ngữ qua một cái gọi là ngữ năng (competence) để thụ đắc ngôn ngữ. Đó là điểm khác giữa ngƣời bản ngƣ̃ và ngƣời ngoa ̣i ngƣ̃.
Ngữ năng là đặc trưng của bản ngữ, nó giống nhƣ một thứ bẩm sinh. Chomsky đã thông qua ngôn ngữ trẻ em để xác nhận điều này. Vốn từ vựng của trẻ em có thể thiếu, nhƣng ngữ pháp thì y hệt ngƣời lớn. Ngữ năng này ngƣời phi bản ngữ không có, chỉ có thể có đƣợc qua rèn luyện và học tập.
Hằng ngày chúng ta sử dụng ngữ năng để hoa ̣t đô ̣ng ngôn tƣ̀ , gọi là dụng ngôn. Mỗi ngƣời có một khả năng dụng ngôn khác nhau, điều này thuộc về năng lực ngôn ngữ. Giáo dục ngôn ngữ và giáo dục bản ngữ a) Giáo dục ngôn ngữ Theo Đinh Văn Đức – Nguyễn Văn Chính – Đinh Kiều Châu trong Dẫn luận Ngôn ngữ học ứng dụng [9], giáo dục ngôn ngƣ̃ là địa hạt ngôn ngữ học ứng dụng quan tâm rất nhiều, trong đó ngôn ngữ đƣợc coi là công cụ phát triển và tác động nhận thức. Giáo dục ngôn ngƣ̃ có hai cách hiểu : + Theo nghĩa hẹp là gắn với dạy và học ngôn ngữ.
+ Theo nghĩa rộng thì đó là m ột địa hạt thuộc ngôn ngữ học ứng dụng, trong đó ngôn ngữ đƣợc sử dụng nhƣ một công cụ nâng cao hiểu biết, tác động can thiệp làm thay đổi các hành vi ngôn ngữ, hƣớng việc sử dụng ngôn ngữ đến chuẩn mực làm cho tầm hoạt động của ngôn ngữ đƣợc mở 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Muốn tác động, can thiệp thì giáo d ục ngôn ngƣ̃ p hải nâng cao hiểu biết ngôn ngƣ̃ cho ngƣ ời học đồng thời quảng bá tri thức về ngôn ngữ và văn hoá. Con ngƣời thƣờng xuyên tăng thêm hiểu biết, mở rộng tri thức và tầm nhìn, tầ m hoạt động, trong đó tri thức ngôn ngữ vừa là phƣơng tiện vừa là động lực. Thông qua ngôn ngữ, con ngƣời tiếp nhận thông tin và tự nguyện thay đổi thái độ hành vi theo mức độ hiểu biết.
Giáo dục ngôn ngữ là tạo hành vi tự nguyện chứ không áp đặt cho ngƣời sử dụng ngôn ngữ. Giáo dục ngôn ngữ có mục tiêu quảng bá ngôn ngữ đồng thời quảng bá văn hoá l ồng gộp trong ngôn ngƣ̃ thể hiện ở nội dung dạy và học tiếng. Công cụ dạy tiếng là một bộ ba bao gồm: Giáo viên Chƣơng trình Sách giáo khoa + Giáo viên là yế u tố quan trọng, ngƣời thầ y có nhiệm vụ hƣớng dẫn và rèn luyện ngƣời ho ̣c trên cả phƣơng diện sáng tạo sản phẩm và hƣởng thụ sản phẩm. + Chương trình môn học : Chƣơng trình là bản định hƣớng và định tính về nội dung, là thƣớc đo về dung lƣợng kiến thức cần trao cho ngƣời học.
Ở trƣờng phổ thông, chƣơng trình đƣợc xây dựng theo hình xoáy ốc còn ở bậc cao hơn thƣờng theo đƣờng thẳng đứng. + Sách giáo khoa: Sách giáo khoa thể hiện tính công cụ điển hình là cầ u nố i giƣ̃a ngƣời ho ̣c và ngƣời dạy. Nguồn : Đinh Văn Đức – Nguyễn Văn Chính – Đinh Kiều Châu, Dẫn luận Ngôn ngữ học ứng dụng [9]. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong ngôn ngƣ̃ ho ̣c ƣ́ng du ̣ng , giáo dục ngôn ngữ có hai địa hạt lớn là : Giáo dục bản ngữ Giáo dục ngoại ngữ b) Giáo dục bản ngữ Theo Đinh Văn Đức – Nguyễn Văn Chính – Đinh Kiều Châu trong Dẫn luận Ngôn ngữ học ứng dụng [9], giáo dục bản ngữ đã xuất hiện từ lâu và là truyền thống của mỗi quốc gia, thể hiện ở giáo dục học đƣờng, khoa cử, sáng tác văn học, sau này là báo chí - truyền thông, trong đó dạy tiếng mẹ đẻ ở nhà trƣờng là nội dung quan trọng.
Mục tiêu giáo dục chung là giúp cho ngƣời bản ngữ nói tốt và viết tốt hơn, nâng cao năng lực giao tiếp và khả năng thƣởng thức nghệ thuật ngôn từ. Kênh dạy bản ngữ ở học đƣờng rất quan trọng. Nội dung quan trọng của việc giáo dục bản ngữ bao gồm : + Giáo dục văn tự (chữ viết) + Giáo dục ngôn ngữ trong nhà trƣờng bằng tiếng mẹ đẻ + Giáo dục ngôn ngữ “kĩ thuật” Nƣớc ta đã thành công nhấ t đinh ̣ tron g việc giảng dạy tiếng mẹ đẻ với nội dung : giáo dục văn tự (chữ viết) và giáo dục ngôn ngữ trong nhà trường bằng tiếng mẹ đẻ. Riêng giáo dục ngôn ngữ “kĩ thuật” chúng ta còn có những hạn chế.
Giáo dục ngôn ngữ “kĩ thuật” là giáo dục ngôn ngƣ̃ theo các nghiệp vụ, nghề nghiệp, lĩnh vực, ví dụ nhƣ: giáo dục ngôn ngữ trong địa hạt báo chí và truyền thông (tập viết báo, kĩ thuật phỏng vấn, dẫn chƣơng trin ̀ h , thuyết trin ̀ h trƣ ớc công chúng ,.), trong các ngh ề nghiệp khác : kĩ thuật biên tập và xuất bản,… c) Mục tiêu giảng dạy ngôn ngữ cho người bản ngữ Mục tiêu giảng dạy ngôn ngữ cho ngƣời bản ngữ là giúp ngƣời bản ngữ dùng đúng, diễn tả tốt tiếng mẹ đẻ trong các sản phẩm ngôn từ, sử 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com dụng tiếng mẹ đẻ có hiệu quả, hiểu đƣợc truyền thống ngôn ngữ văn học dân tộc, vận dụng nó trong việc sáng tác nghệ thuật, giáo dục tiǹ h yêu v ới tiếng mẹ đẻ gắn với văn hoá dân tộc, tạo ra những sản phẩm viết có chất lƣợng, đúng chuẩn mực; hiểu đƣợc truyền thống ngôn ngữ văn học dân tộc, có thể vận dụng nó trong việc sáng tạo nghệ thuật; nâng cao tình yêu với tiếng mẹ đẻ gắn với văn hoá dân tộc. Nội dung học tiếng mẹ đẻ cần chia thành nhiều cấp độ. Ví dụ nhƣ việc học ngữ âm là vấn đề chuẩn phát âm chứ không phải học phát âm, hay việc cần điều chỉnh mối quan hệ giữa tiếng phổ thông và tiếng địa phƣơng. Phát âm tiếng Việt có một độ dao động, phải nghe đƣợc mọi giọng và viết chuẩn chính tả.
Về mặt từ vựng, mỗi ngƣời Việt lại có vốn từ vựng khác nhau, phải có khả năng đối chiếu ngƣ̃ nghiã trong từ vựng. Về mặt ngữ pháp, về cơ bản tƣơng đối ổn định và lâu bền. Đó chỉ là về phƣơng diện lí thuyết, còn vận dụng vẫn có những khác biệt. Cách dạy ngữ pháp cho ngƣời bản ngữ phải là trau dồi trong cách nói và cách viết của ngƣời bản ngữ.
Dạy ngƣời bản ngữ là dạy kỹ năng nói và viế t. Nhƣ vậy, dạy ngƣời bản ngữ là chú trọng đến việc giới thiệu các chuẩn mực chứ không phải là giới thiệu bản chất. Với trƣờng hợp tiếng Việt, mục tiêu của việc giáo dục tiếng mẹ đẻ cho ngƣời bản ngữ bắt đầu từ Giáo dục văn tự (học chữ). Mục tiêu sơ khởi nhất là biết đọc và biết viết.
Ở nƣớc ta, cho đến năm 1945, hơn 90 % dân ta mù chữ. Đối với giặc dốt, Bác Hồ đã kí sắc lệnh Thanh toán nạn mù chữ và thành lập Nha Bình dân h ọc vụ ngày 08 tháng 09 năm 1945 với nội dung là trong hai năm 1946-1947, trên phạm vi toàn quốc những ngƣời từ 8-45 tuổi đều phải biết đọc và biết viết. Phong trào xoá n ạn mù chữ đó thành công rất ngoạn mục, nhờ đó 90% dân ta biết đọc, biết viết. Trƣớc năm 1945, nƣớc ta không đƣợc quyền dạy học bằng tiếng mẹ đẻ, chƣ̃ Quố c ngƣ̃ không chin ́ h danh mà học bằng chữ Hán, thi bằng chữ Hán.
Từ 1885 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đến 1945 giáo dục ngôn ngữ bằng tiếng Pháp. Nhƣ vậy, giáo dục học đƣờng ở Việt Nam trong suốt một thời gian dài chủ yếu là bằng ngoại ngữ. Sau năm 1945, tiếng Việt và chữ Việt đƣợc dùng trong giáo dục học đƣờng. Các trƣờng phổ thông dạy học bằng tiếng Việt.