TRUONG BAI HOC SU PHAM HA NOI TRUNG TAM GIAO DUC TU XA LÊ NGỌC LAN IAO TRINH Ae OIG ole a0) GUC) TRUONG DAI HOC SU PHAM HA NOI TRUNG TAM GIAO DUC TU XA PGS. LÊ NGỌC LAN GIÁO TRÌNH XA HOI HOC GIAO DỤC Dành cho học viên ngành Quản lý giáo dục Hệ đào tạo Tại chức và Từ xa (IN LẦN THỨ HAI) NHA XUAT BAN DAI HOC SU PHAM Mã số: 01.351/411 - DH - 2005 MUC LUC Trang Chương Ï: KHÁI LƯỢC VỀ XÃ HỘI HỌC 5 1. Khái niệm xã hội học. Đối tượng nghiên cứu của xã hội học.
Cơ cấu của xã hội học. Chức nâng, nhiệm vụ của xã hội học, 14 Câu hỏi ôn tập và bài tập thực hành 18 Chương 2: KHÁI QUÁT VỀ XÃ HỘI HỌC GIÁO DỤC 19 1. Khái niệm xã hội học giáo dục. Đối tượng, nhiệm vụ, chức năng của xã hội học giáo dục.
Giáo dục và cơ cấu xã hội. 26 Câu hỏi ôn tập và bài tập thực hành 54 Chương 3: XÃ HỘI HOÁ CÁ NHÂN VÀ 55 MÔI TRƯỜNG XÃ HỘI HOÁ 1. Xã hội hoá cá nhân. Môi trường xã hội 7 3.
Nhóm xã hội và sự xã hội hoá cá nhân. 76 Câu hỏi ôn tập và bài tập thực hành 108 Chương 4: MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI VỀ +109 GIÁO DỤC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 1. Những thành tựu cơ bản của giáo dục Việt Nam. Các chính sách phát triển giáo dục của Đảng và Nhà nước 112 hiện nay.
Vấn đẻ xã hội hoá giáo duc. 113 Câu hỏi ôn tập và bài tập thực hành 126 TÀI LIỆU THAM KHẢO 127 Chuong 1 KHÁI LƯỢC VE XÃ HỘI HỌC 1, KHÁI NIỆM XÃ HỘI HỌC Có nhiều định nghĩa khác nhau vẻ xã hội học. Thuật ngữ “xã hội học” (sociology - ghép chữ la tình Socius hay Societas nghĩa là xã hội (Chữ Hi lap: “Logos” nghia 14 hoc thuyét, nghiên cứu). Do vậy xã hội học được hiểu là học thuyết về xã hội, nghiên cứu về xã hội.
Có ba cách tiếp cận để xác định đối tượng nghiên cứu của xã hội học: Theo cách tiếp cận “vĩ mô”, đối tượng nghiên cứu của xã hội học là các loại hình xã hội (mà sau này được xác định là các hệ thống xã hội, cơ cấu xã hội). Theo cách tiếp cận “vi mô”, đối tượng nghiên cứu của xã hội học là hành vi xã hội hay hành động xã hội của con người. Theo cách tiếp cận “tổng hợp”, xã hội học nghiên cứu cả xã hội loài người và hành vi xã hội của con người. Các định nghĩa khác nhau về xã hội học có thể quy về một trong ba cách tiếp cận trên.
Khi chú ý tới cá nhân, tới con người, xã hội học được định nghĩa là khoa học nghiên cứu hành vi con người, hành động xã hội của con người. Khi chú ý tới xã hội. có định nghĩa xã hội học là khoa học nghiên cứu về các khoa học nghiên cứu về các hệ thống xã hội, các quá trình xã hội, cơ cấu xã hội hay đời sống xã hội của con người. Các nhà xã hội học vừa muốn tập trung nghiên cứu con người, vừa muốn nghiên cứu xã hội.
Nhưng xã hội học khó có thể thâu tóm cả hai - vì như vậy dễ bị phê phán là không có đối tượng rõ ràng; hơn nữa con người và xã hội là những khách thể nghiên cứu của nhiều khoa học khác nhau (trong đó có xã hội học). Các nhà xã hội học mácxít. có xu hướng đưa ra định nghĩa “tích hợp” về xã hội học. Oxipov đã kết hợp cả hai cách tiếp cận “vĩ mê” và “vi mô”, đã nhấn mạnh yếu tố vĩ mô (tính toàn vẹn của xã hội) và yếu tố vi mô (hành vi và hoạt động xã hội của con người) trong định nghĩa : “Xã hội học là khoa học về các quy luật và tính quy luật xã hội chung, về đặc thù của sự phát triển và vận hành của các hệ thống xã hội được xác định về mặt lịch sử, là khoa học về các cơ chế tác động và các 5 hình thức biểu hiện của các quy luật đó trong hoạt động của các cá nhân, các nhóm xã hội, các giai cấp và các dân tộc”? Hoặc nhiều công trình đã xem: “Xã hội học là khoa học về các quy luật phát triển của các hệ thống xã hội có tính chất tổng thể (toàn xã hội) cũng như bộ phận.
Xã hội học nghiên cứu mối quan hệ qua lại giữa các hiện tượng xã hội khác nhau và nghiên cứu những quy luật phổ biến trong hành động xã hội của con người. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU CỦA XÃ HỘI HỌC Định nghĩa xã hội học nêu trên cho thấy: đối tượng nghiên cứu của xã hội học không phải là ở chỗ hoặc nghiên cứu về “con người” hoặc nghiên cứu vẻ “xã hội”, hoặc nghiên cứu “cả con người và xã hội”. Vấn đề cơ bản là phải nghiên cứu mối quan hệ hữu cơ, sự ảnh hưởng lẫn nhau, quan hệ biện chứng giữa một bên là con người với tư cách là cá nhân, nhóm. và một bên là xã hội với tư cách là hệ thống xã hội, cơ cấu xã hội.
Tức là phải chỉ ra được quy luật, tính quy luật, đặc điểm cũng như cơ chế, hình thức điều kiện của sự hình thành, vận động và phát triển mối quan hệ tác động qua lại giữa con người và xã hội. Nhưng xã hội học có phạm vi riêng của nó. Quy luật phát triển lịch sử của xã hội nói chung và quy luật phát triển của CNXH nói riêng là những quy luật khách quan. Nhưng tác động của những quy luật đó tới sự phát triển của xã hội lại thông qua hoạt động có ý thức con người.
Do vậy, điều rất quan trọng là phải hiểu được những điều kiện khách quan của hoạt động đó, những nhân tố tạo ra mục đích và xu hướng của hoạt động đó. Chủ nghĩa duy vật lịch sử đưa lại sự hiểu biết về những quy luật chung của sự phát triển xã hội. Chủ nghĩa xã hội khoa học đưa lại sự hiểu biết về những quy luật đặc thù của sự phát triển xã hội, từ chủ nghĩa tư bản sang chủ nghĩa xã hội mà giai đoạn đầu là bước quá độ theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Còn xã hội học ứng dụng đem lại cho ta những hiểu biết về những hình thức biểu hiện cụ thể và những cơ chế tác động của các quy luật xã hội chung trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội.
“Xã hội học và chủ nghĩa xã hội”, Xã hội học và thời đại, tập 3, số 23/1992, tr. 6 Đặc trưng của đối tượng nghiên cứu của xã hội học làm nẩy sinh hàng loạt các vấn đề “kép”, cơ bản như: “con người - xã hội”, “cá nhân - văn hóa”, “chủ quan - khách quan”, “chủ thể - khách thể”, “tự nhiên - xã hội”, “vi mô - vĩ mô”, “Con người - xã hội”: 2 xã hội không phải là tổng số các cá nhân (nhưng không thể bàn về xã hội không có cá nhân). Mặt khác, mỗi cá nhân đơn độc, riêng lẻ không tạo thành xã hội. Thật khó lí giải hành động của cá nhân nếu không thấy được con người luôn chịu ảnh hưởng, chịu tác động từ phía xã hội.
Các lí thuyết xã hội học đều thấy, chỉ có thể nghiên cứu đầy đủ, toàn điện và hệ thống về bản chất của xã hội trong mối quan hệ giữa con người và xã hội. Còn về bản chất của con người thì phải lí giải xem hành vi của con người có lí trí hay không, có sáng tạo hay không: con người có vị trí, vai trò thế nào trong xã hội; con người có điều kiện để bộc lộ và phát triển năng lực người, có thể thích nghỉ và tác động đến hoàn cảnh xã hội tới mức nào. “ Hanh động xã hội - cơ cấu xã hột”: Trong xã hội học, hành động xã hội (social action} là tất cả những hành vi và hoạt động của con người điễn ra trong khung cảnh lịch sử xã hội nhất định, là hành vi có mục đích, có đối tượng, là hành động hướng tới người khác hay chịu ảnh hưởng của người khác, Cơ cấu là hệ thống chỉnh thể và mối liên hệ của các bộ phận cấu thành. Cơ cấu xã hội hay cấu trúc xã hội (social structure) là khuôn mẫu, thuộc tính của các quan hệ xã hội, các thiết chế xã hội, các điều kiện, các hoàn cảnh và các sản phẩm xã hội mà con người đã tạo ra.
Hành động xã hội được xem xét như là tập hợp các lực lượng chủ quan bên trong (nhu cầu, tình cảm.) và các lực lượng bên ngoài (đối tượng, công cụ, điều kiện). Tương tự như vậy, cơ cấu xã hội được xem là tập hợp các lực lượng vật chất có thể nhìn thấy được (nhóm, tổ chức, xã hội.) và các lực lượng tỉnh thần khó nhìn thấy (chuẩn mực, giá trị, quyền lực xã hội v. Đối tượng nghiên cứu của xã hội học (mối quan hệ giữa con người và xã hội) thể hiện đặc biệt rõ qua phân tích cặp vấn đẻ “hành động xã hội - cơ cấu xã hội”. + Khi mới ra đời, xã hội học ở Pháp được xác định là “khoa học vẻ xã hội”, tức là khoa học nghiên cứu sự hình thành, biến đổi và chức năng của hệ thống xã hội, cơ cấu xã hội.
Ví dụ: Auguste Comte cho rằng xã hội học là môn khoa học vẻ tiến trình thay đổi của các xã hội. Tuy vậy, trong khi hành động xã hội của con người được nghiên cứu bằng các khái niệm xã hội học như giá trị, chuẩn mực, lợi ích. thì chính xã hội lại được xem xét qua các khái niệm của sinh vật học như “cơ thể", “tiến hóa”, “thích nghĩ”, “tự điều chỉnh”. Emile Durkheim cho rằng, đối tượng của xã hội học là các “sự kiện xã hội” (social facts).
Nhưng có thể hiểu sự kiện xã hội như là cơ cấu xã hội. Tác giả cho rằng, các sự kiện xã hội quy định hành động xã hội và đoàn kết các cá nhân để tạo ra trật tự xã hội. Durkheim muốn chứng minh cho sự cần thiết của “trật tự xã hội”. Nhưng tác giả lại đặt xã hội nói chung, cơ cấu xã hội nói riêng đối lập với con người.
+ Khi mới xuất hiện, xã hội học Mĩ lại tập trung chủ yếu vào nghiên cứu hành động, động cơ, nhân cách của cá nhân. Tuy vậy, khi tập trung vào vấn để của các cá nhân, xã hội học Mĩ không tránh được các vấn để xã hội. Nếu xã hội học châu Âu lí giải các hiện tượng xã hội từ góc độ hệ thống xã hội, thì các nhà xã hội học Mi lại giải thích các vấn đề xã hội từ vị thế xã hội của cá nhân.