CHƯƠNG 1: CÁC TIÊU CHUẨN TRÌNH BÀY BẢN VẼ KỸ THUẬT Mã chương: MH 12-01 Giới thiệu: Bản vẽ kỹ thuật là tài liệu kỹ thuật liên quan đến sản phẩm trong buôn bán, chuyển giao công nghệ, trao đổi hàng hóa hay dịch vụ và thông tin. Do đó, bản vẽ kỹ thuật phải được lập theo các tiêu chuẩn thống nhất của tiêu chuẩn Việt nam và tiêu chuẩn quốc tế về bản vẽ kỹ thuật. Hiện nay, các Tiêu chuẩn Việt Nam, trong đó có các tiêu chuẩn về bản vẽ kỹ thuật là những văn bản kỹ thuật do Bộ Khoa học - Công nghệ ban hành. Nước ta đã là thành viên của Tổ chức Tiêu chuẩn hoá Quốc tế (International Organization for Standardization - ISO) từ năm 1977.
Việc áp dụng các Tiêu chuẩn Quốc gia cũng như Quốc tế nhằm mục đích nâng cao năng suất lao động, cải tiến chất lượng sản phẩm, thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật.Ngoài ra, nó còn có ý nghĩa về việc giáo dục tư tưởng, lề lối làm việc của một nền sản xuất lớn. Tiêu chuẩn Việt Nam và Tiêu chuẩn Quốc tế về bản vẽ kỹ thuật bao gồm các tiêu chuẩn về: trình bày bản vẽ, các hình biểu diễn, các kí hiệu và qui ước. cần thiết cho việc lập bản vẽ. Mục tiêu: - Hoàn chỉnh bản vẽ một chi tiêt máy đơn giản với đầy đủ nội dung theo yêu cầu của tiêu chuẩn Việt Nam: Kẻ khung bản vẽ, kẻ khung tên, ghi nội dung khung tên, biểu diễn các đường nét, ghi kích thước.
khi được cung cấp bản vẽ phác của chi tiết - Dựng các đường thẳng song song, vuông góc với nhau; chia đều một đoạn thẳng bằng thước và êke; bằng thước và compa - Vẽ độ dốc và độ côn - Tuân thủ đúng quy định, quy phạm về tiêu chuẩn trình bày bản vẽ kỹ thuật. Vật liệu và dụng cụ vẽ kỹ thuật : Để lập các bản vẽ kỹ thuật cần phải có những vật liệu và dụng cụ vẽ riêng. Biết cách sử dụng và sử dụng thành thạo các dụng cụ vẽ là điều kiện đảm bảo chất lượng bản vẽ và nâng cao hiệu suất công việc. Nội dung chính: 1.
Vật liệu vẽ, dụng cụ vẽ kỹ thuật 1. Giấy vẽ Giấy dùng để vẽ các bản vẽ kỹ thuật gọi là giấy vẽ (giấy crôki). Đó là loại giấy dày, hơi cứng có mặt phải nhẵn và mặt trái ráp. Khi vẽ bằng bút chì hay bằng mực đều dùng mặt phải của giấy vẽ.
Giấy dày để lập các bản vẽ phác thường là giấy kẽ li hay giấy kẽ ô vuông. Bút chì Bút chì dùng để vẽ các bản vẽ kỹ thuật là bút chì đen. Bút chì đen có loại cứng, ký hiệu bằng chữ H và loại mềm, ký hiệu bằng chữ B. Kèm theo mỗi chữ đó có chữ số đứng ở trước làm hệ số để chỉ độ cứng hoặc độ mềm khác nhau.
Hệ số càng lớn thì bút chì có độ cứng hoặc độ mềm càng lớn. Thí dụ: loại bút chì cứng H, 2H, 3H…; loại bút chì mềm B, 2B, 3B….Bút chì vừa có kí hiệu là HB. Trong vẽ kĩ thuật, thường dùng loại bút chì có kí hiệu H, 2H để vẽ nét mảnh và dùng bút chì có kí hiệu HB, B để vẽ nét đậm hoặc để viết chữ. Bút chì được vót nhọn hay vót theo hình lưỡi đục như chỉ dẫn ở hình 1.1 thông thường dùng bút chì kim với lõi chì có đường kính khác nhau để vẽ các nét tiện lợi hơn.1 Bút chì Ngoài giấy vẽ và bút chì ra, còn cần có một số vật liệu khác như tẩy dùng để tẩy chì hay tẩy mực, giấy ráp để mài bút chì, đinh mũ, băng dính để cố định bản vẽ ở trên ván vẽ v.
Dụng cụ vẽ và cách sử dụng - Ván vẽ: Ván vẽ làm bằng gỗ mềm, mặt ván phẳng và nhẵn, hai bên trái và phải ván vẽ thường nẹp gỗ cứng để mặt ván không bị vênh. Mặt bên trái ván vẽ phải phẳng và nhẵn để trượt thước tô một cách dễ dàng (H. Kích thước của ván vẽ được xác định tuỳ theo loại khổ, bản vẽ.3 Thước tê - Thước tê: Thước tê có hình chữ T làm bằng gỗ hay bằng chất dẻo, nó gồm có thân ngang mỏng và đầu tê (H. Mép trượt của đầu tê vuông góc với mép trên của thân ngang.
Thước tê dùng để vạch các đường thẳng nằm ngang. Khi vạch bút chì được kẻ theo mép trên của thân ngang. Để các đường nằm ngang song song với nhau,ta có thể trượt mép của đầu tê dọc theo bên trái của bản vẽ (H.4 Thước tê Hình 1.5 Ê ke 9 Khi cố định tờ giấy vẽ lên mặt ván vẽ phải đặt sao cho một cạnh của tờ giấy song song với thân ngang của thước tê. - Ê ke: Ê ke vẽ kỹ thuật thường là một bộ gồm hai chiếc, một chiếc có hình tam giác vuông cân và chiếc kia có hình nửa tam giác đều (H.
Ê ke thường làm bằng gỗ hay bằng chất dẻo. Ê ke phối hợp với thước tê hay hai ê ke phối hợp với nhau để vạch các đường thẳng đứng hay các đường nghiêng hoặc để vẽ các góc khác nhau. Hộp compa: Hộp compa vẽ kỹ thuật thường dùng có các dụng cụ sau: Compa quay đường tròn, compa đo, bút kẻ mực… dưới đây trình bày cách sử dụng một số dụng cụ đó Compa vẽ đường tròn. Compa vẽ đường tròn thường dùng để vẽ đường tròn có đường kính lớn hơn 12mm (H1.
Nếu cần vẽ đường tròn có đường kính lớn thì chắp thêm cần nối. Khi vẽ cần chú ý mấy điểm sau đây: Đầu kim hay đầu chì đặt vuông góc với bản vẽ. Khi vẽ nhiều đường tròn đồng tâm, nên dùng kim có ngấn ở đầu hay dùng cái đinh đâm để kim không ấn xuống sâu ván vẽ làm cho lỗ to ra đưa đến nét vẽ không chính xác. Dùng ngón tay trỏ và tay cái cầm đầu núm compa, quay compa một cách đều đặn và liên tục theo một chiều nhất định.6 Compa Compa vẽ đường tròn bé: Compa vẽ đường tròn bé dùng để vẽ đường tròn có đường kính từ 6 đến 12 mm.
khi vẽ dùng ngón tay trỏ ấn nhẹ trục có đầu kim và giữ cho trục vuông góc với mặt bản vẽ, dùng ngón tay cái và ngón tay giữa quay đều cần có đầu chì, cần này quay xung quanh trục có đầu kim (H. - Compa đo: Compa đo dùng để đưa độ dài đoạn thẳng từ thước kẻ li đặt lên bản vẽ. hai đầu kim của compa đặt đúng vào hai đầu mút của đoạn thẳng hoặc hai vạch ở trên thước kẻ li, sau đó đưa lên bản vẽ bằng cách ấn nhẹ hai đầu kim xuống mặt giấy vẽ. - Thước cong: Thước cong dùng để vẽ các đường cong không tròn, thí dụ đường elip, đường parapol, đường hipecpol… thước cong được làm bằng gỗ, bằng kim loại, bằng chất dẻo và có nhiều loại khác nhau.
- Khi vẽ, cần xác định một số điểm của đường cong cần vẽ, sau đó đặt thước cong sao cho đường cong của thước đi qua các điểm một số điểm, đường cong được vẽ phải trơn đều (H.7 Thước đo Hình 1.8 Thước cong 2. Trình tự hoàn thành bản vẽ Muốn hoàn thành bản vẽ kỹ thuật bằng chì hoặc bằng mực, cần theo một trình thự nhất định có sắp đặt trước. Trước khi vẽ phải chuẩn bị đầy đủ các vật liệu, dụng cụ vẽ và những tài liệu cần thiết. Khi vẽ thường chia làm hai bước lớn, bước vẽ mờ và bước tô đậm.
Dùng loại bút chì cứng H hoặc 2H để vẽ mờ, nét vẽ phải đủ rỏ và chính xác. Sau khi vẽ mờ xong phải kiểm tra lại bản vẽ rồi mới tô đậm. Dùng loại bút chì mềm B hoặc 2B để tô đậm các nét đậm và dùng bút chì có kí hiệu B hoặc HB để tô các nét đứt và viết chữ. Chì dùng để vẽ các đường tròn, nên chọn mềm hơn chì dùng để vạch các đường thẳng.
Cần giữ cho đầu chì luôn luôn nhọn bằng cách mài chì trên giấy ráp. Không nên tô đi tô lại từng đoạn của nét vẽ. Tốt nhất dùng loại bút chì kim để vẽ. Nói chung nên tô các nét khó vẽ trước, các nét dễ vẽ sau; tô nét đậm trước, nét mảnh sau; tô đường nét trước, ghi con số, các kí hiệu và chữ sau.
Trình tự tô các nét vẽ như sau: - Vạch các đường trục và đường tâm bằng nét chấm gạch mảnh. - Tô đậm các nét đậm theo thứ tự. - Đường cong lớn đến đường cong bé - Đường bằng từ trên xuống dưới. - Đường thẳng đứng từ trái sang phải.
- Đường xiên từ trên xuống dưới từ trái sang phải. - Tô các nét đứt theo thứ tự như trên. - Vạch các đường gióng, đường ghi kích thước, đường gạch gạch của mặt cắt… - Vẽ các mũi tên, ghi các con số kích thước, viết các kí hiệu và ghi chú bằng chữ. - Vẽ khung vẽ và khung tên.
- Cuối cùng kiểm tra bản vẽ và sửa chữa. Tiêu chuẩn bản vẽ kỹ thuật Các bản vẽ kỹ thuật được thực hiện bằng phương pháp biểu diễn khoa học, chính xác bằng dụng cụ vẽ hay bằng máy tính điện tử theo những quy định thống nhất của tiêu chuẩn Quốc gia và Quốc tế về bản vẽ kỹ thuật. Tháng 4 năm 1962, chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã ra quyết định thành lập Viện Đo Lường và Tiêu chuẩn thuộc Ủy ban khoa học nhà nước, nay là 11 tổng cục Tiêu chuẩn – Đo lường – Chất lượng thuộc bộ Khoa học – Công nghệ và Môi trường để chỉ công tác tiêu chuẩn hóa của nước ta. Nó là tổ chức quốc gia về tiêu chuẩn hóa.
Năm 1963, Ủy ban Khoa học Nhà nước đã ban hành các tiêu chuẩn Việt Nam về “Bản vẽ cơ khí”, đó cũng là những tiêu chuẩn quốc gia đầu tiên của nước ta. Năm 1964, ban hành các tiêu chuẩn về “Hệ thống quản lí bản vẽ”. Các tiêu chuẩn “Bản vẽ cơ khí” và “Hệ thống quản lí bản vẽ” đã bước đầu thống nhất các quy định về bản vẽ kỹ thuật của nước ta. Hiện nay các tiêu chuẩn về bản vẽ kỹ thuật nói riêng và về tài liệu thiết kế nói chung được nhà nước ban hành trong nhóm các tiêu chuẩn “Hệ thống tài liệu thiết kế” chúng thường xuyên được soát xét, sửa đổi và bổ sung cho phù hợp với sự phát triển của sản xuất và sự tiến bộ của khoa học công nghệ, phù hợp với Tiêu chuẩn quốc tế về bản vẽ kỹ thuật.
Công tác tiêu chuẩn hóa quốc tế giữ một vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đẩy mạnh tiến bộ kỹ thuật và công nghệ trên phạm vi toàn thế giới.