CHƯƠNG 1 ĐẠI CƯƠNG VĂN HỌC DÂN GIAN VIỆT NAM Lời ăn tiếng nói dân gian Thuật ngữ Folklore (trí tuệ nhân dân) Trữ tình dân gian xuất hiện từ giữa những năm 40 của thế kỷ XIX, được sử dụng để chỉ các hình Tự sự dân gian thức sinh hoạt, các sáng tác dân gian nói Sân khấu dân gian chung. Ở Việt Nam, thuật ngữ Folklore được hiểu là “Văn ng ệ n g n, “Văn n g n” y “Văn c n g n”. KHÁI NIỆM VĂN HỌC DÂN GIAN Theo Từ điển văn học (Bộ mới), văn c dân gian (còn g i là văn c ương bìn n, văn c ương truyền miệng), là “k á niệm chỉ những sáng tác nghệ thuật ngôn từ của nhân dân lao động, phát sinh từ thời kỳ công xã nguyên thủy và phát triển mạnh mẽ trong các xã hội có giai cấp c o đến cả thời hiện đạ ”1. N ìn c ung, văn c dân gian do nhân dân sáng tác, diễn xướng và lưu truyền; gắn liền với cuộc sống l o động của nhân dân, phản ánh thế giới tinh thần, tình cảm, tư tưởng, quan niệm của nhân dân về cuộc sống, con người.
Trong tiến trình phát triển của lịch sử văn c, văn c dân gian tồn tại song song với văn c viết và trở thành một bộ phận quan tr ng của lịch sử văn h c dân tộc. Văn c dân gian là một t àn tố qu n tr ng cấu t àn văn , là một p ức ợp g á trị văn - văn c - lịc sử - tr ết c - tôn giáo - đạo đức củ mỗ n tộc. Văn c n g n được sáng tạo r t eo quy trìn sáng tạo văn , là cơ sở c uyển tả các g á trị văn và là p ương t ện lưu g ữ các g á trị văn. N ư vậy, đố tượng ng ên cứu củ văn c dân gian là: 1 Nhiều tác giả, NXB Thế giới, 2004, tr.
N ững tác p ẩm văn c dân gian. N ững s n oạt văn n g n củ n n n l o động. Tác g ả và công c úng củ văn c dân gian. NHỮNG ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA VĂN HỌC DÂN GIAN R đời từ rất sớm, gắn liền vớ tư uy ng ệ thuật củ cộng đồng, về s u là củ các tầng lớp bình dân trong xã hộ , văn c dân gian mang những đặc trưng rất riêng, khác hẳn vớ văn c viết: Tính tập thể và tính vô danh, tính truyền miệng, tính dị bản.
Tính tập thể và tính vô danh N đến tính tập thể và tính vô danh củ văn c dân gian là n đến khuyn ướng “p sở hữu cá n n” của những tác phẩm văn c thuộc bộ phận văn c này. Khác vớ văn c viết, tác phẩm văn c dân gian không gắn liền với tên tuổi cụ thể của một tác giả nào, mà là sản phẩm chung của quá trình sáng tác tập thể. Tính tập thể - vô danh củ văn c dân gian thể hiện rất rõ trong quá trình sáng tạo, lưu truyền và cảm thụ của quần chúng nhân dân. Quá trình sáng tạo văn c dân gian gắn liền với quá trình l o động, sinh hoạt củ n n n.
Trong l o động, h đã mượn lời ca, tiếng hát để thể hiện t m tư, tìn cảm và mơ ước của mìn. Đ c t ể là nỗ đ u củ người con gái bị cha mẹ ép duyên; là nỗi bất hạnh củ người phụ nữ phải sống kiếp chồng c ung. Đ c t ể là thân phận tủi nhục, cô đơn củ người con ghẻ, ngườ con r êng, người con mồ côi cha mẹ. H y đ là tìn cảm mộc mạc mà chân thành, sâu sắc của những chàng trai, cô gá đ ng yêu,… Văn c n g n là p ương t ện để h trực tiếp bày tỏ những nỗi niềm.
Khi một người có nhu cầu bộc lộ tình cảm, h đ c lên hoặc át lên c o người khác nghe và tiếp nhận. Người nghe lại góp vào và hoàn chỉnh tác phẩm khiến cho tác phẩm văn c ấy trở thành của chung. Có những tác phẩm văn c n g n được hình thành qua những lờ át ò, đố đáp của những chàng trai, cô gái trong lao động hoặc trong những dịp hội hè. Những bà ò đố đáp trữ 2 tìn , đằm thắm ấy đã trở thành những sáng tác tập thể củ người l o động: Hỏi anh: cái gì thấp, cái gì cao? Em ơi! Đất thấp trời cao, Cái gì sáng tỏ như sao trên trời? Ngọn đèn sáng tỏ hơn sao trên trời.
Cái gì em trải anh ngồi? Chiếu hoa em trải anh ngồi Cái gì thơ thẩn ra chơi vườn đào? Đêm nằm tơ tưởng ra chơi vườn đào Cái gì mà sắc hơn dao? Nước kia còn sắc hơn dao Cái gì phơn phớt lòng đào hỡi anh? Trứng gà phơn phớt lòng đào, em nghe! Mặt khác, trong quá trình tiếp nhận, cảm thụ và lưu truyền tác phẩm văn c n g n, ngườ đ c đã tự sửa chữa, bổ sung tác phẩm cho phù hợp với hoàn cảnh, tâm trạng của mình, phù hợp vớ đị p ương mìn. Vì vậy, h đã trở t àn “đồng tác giả”, và yếu tố cá nhân trong quá trình sáng tác bị mất dần đ. Cứ thế, năm t áng qu đ , n ững tác phẩm văn c n g n r đời một cách tự phát ấy đã trở thành sản phẩm trí tuệ củ n n n, n các k ác, c úng luôn được “làm mớ ” trong k ông g n và qu t ờ g n. Là những sáng tác mang tính tập thể (là quần chúng nhân n) nên văn c dân gian phản ánh chân thực và s n động toàn bộ đời sống tinh thần và sinh hoạt của nhân dân.
H có chung ước mơ c n p ục thiên nhiên nên những câu chuyện n ư Sơn Tinh - Thủy Tinh r đời. Vớ ước mơ c được p ương t uốc có thể cải tử oàn s n , ngườ bìn n đã sáng tạo nên Sự tích chú Cuội cung trăng. Không ít những con người bất hạn (người mồ cô , người con ghẻ, con r êng, ngườ đ ở, người xấu xí, tật nguyền,…) đã bộc lộ khát v ng về một cuộc sống hạnh phúc. Vì vậy, ngườ bìn n ngày xư đã để lại những câu chuyện đầy cảm động (Tấm Cám, Cây tre trăm đốt, Cây Khế, Lấy vợ Cóc, Sọ Dừa,…).
Dù mỗi tác phẩm t ường xoay quanh một số phận, một cuộc đờ n ưng ngườ đ c nhiều thế hệ vẫn nhận ra trong đ bóng dáng cả một tầng lớp người của xã hội một thời. Vì tác giả là quần c úng n n n nên đ số những tác phẩm văn c n g n đã g ải quyết vấn đề trên qu n đ ểm của 3 nhân dân. Kết thúc tác phẩm, bao giờ người nghèo khổ, bé nhỏ, bất hạn cũng c ến thắng kẻ g àu s ng, độc ác để được sống hạnh phúc. Những kẻ độc ác, c à đạp lên hạnh phúc củ người khác sẽ bị trừng trị t íc đáng.
Trong truyện Cây tre trăm đốt, anh Khoai cuố cùng đã trừng trị vợ chồng lão phú ông tham l m, độc ác và được ưởng cuộc sống hạnh phúc. Trong truyện Tấm Cám, sau quá trình hóa kiếp lẩn quẩn, cô Tấm đã sống hạnh phúc bên nhà vua, còn mẹ con Cám bị trừng trị. Kết thúc truyện Cây khế, ngườ em được sống g àu s ng, người anh tham lam bị rơ xuống biển cùng với những túi vàng nặng trĩu,. Tóm lạ , n văn c dân gian mang tính tập thể không có ng ĩ là lúc nào tác g ả cũng là tập thể nhân dân.
Quá trình sáng tác tập thể củ văn c n g n t ường diễn ra một cách tự nhiên, tự phát và nối tiếp nhau giữa các cá nhân cụ thể qua thời gi n và k ông g n k ác n u. C o nên, tín vô n n ư là một hệ quả tất yếu của tính tập thể và tính truyền miệng. N ưng không chỉ đơn t uần n ư t ế, tính vô danh còn là kết quả tổng hợp của cả tính truyền thống và các thuộc tính hữu quan khác. Đồng thời, tín vô n cũng k ông ề phủ nhận vai trò quan tr ng của những người tham gia sáng tác.
H là những cá nhân cụ thể, thậm c í, đô k c t ể xác địn được h tên, quê quán, nghề nghiệp,… Đ là n ững người tài hoa, nhạy cảm, có vốn sống, c năng k ếu và sở trường về một loại hình sinh hoạt văn nghệ n g n nào đ. Tính truyền miệng Văn c dân gian là một môn khoa h c chuyên nghiên cứu các sáng tác truyền miệng dân gian. Sáng tác truyền miệng dân gian là một thuật ngữ thích hợp để chỉ toàn bộ kho tàng sáng tác dân gian. Bộ phận này, trước hết, là một loạ ìn ng ệ thuật của tập thể n n n l o động, sáng tác và lưu truyền bằng miệng.
Truyền miệng là thuật ngữ dùng chỉ p ương t ức lưu àn của Folklore. Cách g i này còn nhằm mục đíc p n b ệt với văn c viết, mà t eo đ , t uộc tính truyền miệng là một thuộc tín cơ bản để xác địn đặc trưng củ văn c n g n. N ư 4 vậy, n đến tính truyền miệng là n đến một hình thức sáng tạo và lưu truyền, sử dụng và biểu diễn rất đặc biệt, khác với hình thức văn tự củ văn c viết. Trước hết, r đời trong hoàn cảnh xã hộ c ư c c ữ viết, trìn độ văn ,k o c kỹ thuật còn hạn chế, tác phẩm văn h c dân gian chủ yếu được truyền từ ngườ này s ng người khác, từ đờ này s ng đời khác, từ nơ này s ng nơ k ác bằng hình thức truyền miệng.
H truyền cho nhau những lời ca, tiếng hát (ca dao, dân ca, hò vè,…); nói với nhau những kinh nghiệm sống, những kinh nghiệm về trồng tr t, c ăn nuô , t ời tiết,… (tục ngữ); h kể cho nhau nghe những câu chuyện về các hiện tượng tự nhiên, xã hội (thần thoại, cổ tích, ngụ ngôn,…). Chính tính truyền miệng đã làm c o các tác p ẩm văn c dân g n được phổ biến rộng rãi trong nhân dân ở m nơ , m i lúc. Mặt k ác, văn c dân gian nảy sinh trong quá trình lao động, trong những dịp hội hè, xuất phát từ nhu cầu tự bộc lộ trực tiếp tình cảm và nhận thức của nhân dân (mang tính ứng tác). Đ còn là loại hình nghệ thuật tổng hợp.